
Điều kiện lịch sử, kinh tế và văn hóa phương Đông phương Tây ảnh hưởng về qui mô và tính chất của ngày Tết. Phương Đông nhiều Tết, đặc biệt là Trung Quốc – Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Phương Tây do điều kiện kinh tế và văn hóa văn minh vượt trội nên các quốc gia này ít ngày Tết trong một năm. So với phương Đông thì ngày Tết ở phương Tây thời gian ngắn, tổ chức đơn giản không như ngày Tết ở phương Đông tưng bừng và tốn kém về vật chất.
Trải qua trường kỳ lịch sử do hoàn cảnh kinh tế và văn hóa khác biệt nên Tết ở các nước phương Đông dần dần phân hóa và tách biệt. Ba nước lớn, tiêu biểu cho cái nôi của văn hóa phương Đông cũng rất khác nhau. Nhật Bản là nước phương Đông, trải qua chế độ phong kiến lâu dài và chịu ảnh hưởng của Thần đạo nhưng đến thời Duy Tân – Minh Trị (1868-1912) nước Nhật Bản đẩy mạnh cải cách chấm dứt chế độ phong kiến từ bỏ “phương Đông”, quyết tâm “học tập, đuổi kịp và vượt phương Tây”. Từ đây Nhật Bản mang bản sắc văn minh văn hóa phương Tây thể hiện cụ thể cho sự hòa nhập văn minh đó Nhật Bản tổ chức Tết theo Tây phương – tức là ăn Tết dương lịch.
Ấn Độ đất rộng người đông (hơn 1 tỷ dân) cũng có ngày Tết riêng. Nước Úc mặc dù về địa lý khu vực thuộc về phương Đông nhưng đảo quốc giàu có, xinh đẹp này vẫn tổ chức Tết theo các nước phương Tây. Ngày nay, với gần 180 quốc gia và vùng lãnh thổ thì chỉ có hai nước tổ chức ngày Tết theo âm lịch, đó là Trung Quốc và Việt Nam – gọi là Tết ta (Tết âm lịch).
1. Theo sử sách thì Tết xuất hiện ở Trung Quốc từ thời nhà Chu, cách đây gần 3 ngàn năm. Thời Tây Chu triều đình và dân chúng đã bắt đầu tổ chức Tết. Thời đó, kinh tế ở Trung Quốc còn lạc hậu, sản xuất nông nghiệp vất vả, cơm không có ăn, áo không có mặc, mùa đông đến, xuân về đói rét (cơ hàn) xảy ra liên miên. Để giảm bớt sự đau khổ của dân chúng, cuối năm triều đình cho dân chúng nghỉ đồng áng, dọn dẹp nhà cửa, tổ chức ăn uống để “tống cựu” tiễn đưa một năm vất vả và “nghênh tân” đón mừng năm mới đến với hy vọng bớt đi sự gian lao cực nhọc. Từ đó, đến ngày nhộn nhịp, nhàn rỗi và được ăn uống hàng năm gọi là ngày Tết. Trong Hán ngữ cổ xưa không có chữ “Tết”. Chữ “Tết” là từ thuần Việt do người Việt Nam (khác với người Ngô – Việt thời Xuân Thu) đọc “chệch” từ chữ “Tiết” mà ra. Người Trung Quốc ngày nay không gọi là “ngày Tết” mà họ dùng chữ “Tiết nhật” (Tiết, có nghĩa là cái đốt giữa hai đầu lóng tre) hay “Quá niên”. Người Việt thường gọi là “Tết Nguyên đán”. Trong ba chữ ấy thì chữ “Tết” là từ thuần Việt, còn hai chữ “Nguyên đán” (hay Nguyên nhật) là từ Hán – Việt (chữ “Nguyên” là đầu tiên, “đán” là buổi sáng sớm) để chỉ ngày đầu tiên của tháng giêng âm lịch.
Thời xưa ở Trung Quốc Tết Nguyên đán chỉ tổ chức một ngày và trước đó là “đêm giao thừa”. (Chữ “Thừa” có nghĩa là “Tiếp nối”). Đến thời Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh về sau Tết Nguyên đán thành ba ngày và phân chia lịch tổ chức trong 3 ngày đó.
2. Trong 100 năm qua nhất là nửa thế kỷ XX trở lại đây các nước phương Tây phát triển hơn các nước ở khu vực khác. Do vậy phong tục lễ tết ở các nước phương Tây cũng có nhiều thay đổi, cách tân mang tính chất hiện đại tân tiến, văn minh. Tính chất toàn cầu hóa ngày càng lớn mạnh, Anh ngữ quốc tế hóa rất nhiều quốc gia và thế giới đều dùng một thứ lịch – gọi là dương lịch (có thể gọi là quốc tế lịch). Nhiều quốc gia đang phát triển và chưa phát triển như châu Phi, châu Á và Nam Mỹ thì vẫn dùng dương lịch trong công việc hành chính, sinh hoạt và giao dịch. Tết dương lịch (tức Tết Tây) trở nên phổ biến. Về thời gian Tết dương lịch rất gần với lễ Giáng sinh. Vì vậy các nước Âu – Mỹ dân chúng chuẩn bị ngày lễ Giáng sinh cùng một lúc với chuẩn bị đón Tết dương lịch.
Nếu mọi người Việt thường gọi là “ăn Tết” có nghĩa là trong ba ngày Tết tập quán chủ yếu là sắm sửa, mua bán và coi trọng việc tổ chức cho việc “ăn” thì ở Tết dương lịch mọi người chủ yếu là “vui Tết”. Trong ngày này tục lệ đông vui, thu hút mọi người và có ấn tượng nhất là những ngày “vui Tết” đông đảo ở ngoài đường, nơi công cộng, nhà thờ, quảng trường, công viên, nhà hát… Việc “ăn Tết” thường tổ chức ở các nhà hàng, khách sạn, siêu thị hay bữa ăn tập thể ở ngoài trời. Chuông nhà thờ ngân nga, đêm pháo hoa rực rỡ, đẹp mắt và đoàn người màu sắc sặc sỡ diễu hành qua các đường phố là những ấn tượng nổi bật của Tết dương lịch ở các nước Âu – Mỹ. Đêm Giáng sinh và đêm giao thừa ở Paris, Luân Đôn, New York, Tokyo, Sydney, Hồng Kông, Singapore rực rỡ pháo hoa, phố phường nhộn nhịp đông vui. Ngày Tết Tây ở phương Tây vui và ấn tượng ở thành phố nhưng ở vùng quê xa xôi vì băng tuyết bao phủ, lạnh lẽo nên Tết thường vắng vẻ, lạnh lẽo.
3. Từ sau ngày đất nước thống nhất (1975) nhất là sau 30 năm đổi mới lễ Phật đản, Giáng sinh, Tết Tây và Tết ta ở Việt Nam có nhiều thay đổi, phong phú, tưng bừng, náo nhiệt và kết hợp hài hòa hơn. Đêm Giáng sinh trước Tết dương lịch một tuần rực rỡ ánh đèn, cây thông, ông già Noel, tiếng chuông nhà thờ ngân vang, người đổ ra đường ngựa xe như nước, người đông như thác chảy. Tết dương lịch nhộn nhịp lạ thường. Sau Tết dương lịch mọi người, mọi nhà chuẩn bị đón Tết âm lịch. Kết hợp với các ngày nghỉ Tết ta những năm gần đây được nghỉ nhiều ngày, chợ hoa, hội hoa xuân, hội báo xuân tổ chức khắp các thành phố. Từ việc “ăn Tết” mọi người có xu hướng “vui Tết”, “chơi Tết”, coi trọng đời sống tinh thần trong ngày Tết như xem ca nhạc, đi công viên, tham quan, du lịch, nghỉ mát, nghỉ dưỡng. “Về quê ăn Tết” cũng là những đặc điểm mới rất phổ biến ở các thành phố. Tết Tây, Tết ta ở Việt Nam ngày nay rất đông vui, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, miền biển, hải đảo. Có thể nói chưa bao giờ Tết Tây, Tết ta ở Việt Nam lại ấm cúng, thân thương và đậm đà dân tộc tính như ngày nay. Ngày Tết ở Việt Nam tổ chức rất chu đáo, qui mô mà ít quốc gia nào có được. Việc cứu trợ các hộ nghèo, chăm lo Tết các khu phố, xóm ấp, diện trợ cấp chính sách được các cấp chú ý trong dịp Tết.
4. Người Việt ở hải ngoại tập trung chủ yếu là các nước Mỹ, Canada, Anh, Pháp và Úc châu. Bên cạnh Tết Tây hòa cùng niềm vui và không khí Tết của người bản xứ mặc dù xa xứ từ rất lâu nhưng người Việt vẫn không quên ngày Tết và họ cùng nhau chăm lo, đón Tết dân tộc đầm ấm ở xứ người.
Văn hóa Đông – Tây khác nhau, phong tục Tết cũng khác nhau nhưng người Việt ở xứ người ngày Tết vẫn đi thăm mồ mả, đốt nhang, giẫy cỏ, trồng hoa, mua hoa mai, hoa đào và mâm cỗ trái cây ngũ quả đặt trên bàn thờ. Cành mai, cành đào, bánh tét, bánh chưng, chả lụa, chả giò, dưa món, thịt heo làm tăng thêm hương vị bữa ăn ngày Tết của người Việt. Các bà các ông mặc lễ phục, quốc phục Việt như để nói lên vẻ đẹp truyền thống của cha ông từ ngàn xưa để lại. Xuân về Tết đến ở nơi xa xôi lạnh giá người Việt nhớ quê hương, đất nước và gia đình da diết. Tết là dịp để mọi người gần nhau và nhớ thương nhau nhiều nhất. Bữa cơm ngày Tết ở nước ngoài rất có ý nghĩa đối với mọi người.
PGS. Hồ Sĩ Hiệp

Bình luận (0)