Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Ca trù – viên ngọc quý đã hồi sinh

Tạp Chí Giáo Dục

Hiện nay trên các sân khấu hiện đại, một số loại hình nghệ thuật truyền thống đang thưa vắng dần nên đã làm cho lớp khán giả trẻ gần như lãng quên. Thế nhưng với vẻ đẹp thuần khiết của sự kết hợp ăn ý giữa âm nhạc và văn học, các loại hình nghệ thuật truyền thống trong đó có ca trù đã không bao giờ mất đi những giá trị văn hóa vốn có mà lịch sử dân tộc để lại như một báu vật tinh thần.
Thật khó có thể tìm thấy được tiết mục ca trù xuất hiện trong một sân khấu hiện đại hay cả trong chương trình nghệ thuật giới thiệu về nền âm nhạc truyền thống. Tuy là một đặc sản của văn hóa Việt nhưng nó vẫn được coi như một “món ăn lạ” mà đôi khi lại không hợp khẩu vị.
Số phận thăng trầm
Rõ ràng so với các loại hình kịch hát dân tộc khác như tuồng, chèo, ca kịch thì ca trù vẫn còn bị lép vế nhiều. Thỉnh thoảng nếu theo dõi trên làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam thì những “người của muôn năm cũ” vẫn được nghe lại một số bài hát từng đã thấm vào máu thịt của nhiều thế hệ say mê ca trù trong chương trình dân ca và nhạc cổ truyền Việt Nam. Để làm mới chương trình, các biên tập viên của nhà đài đã xen rất nhiều nội dung khác khi giới thiệu các tiết mục ca trù để người nghe hiểu rõ thêm nguồn gốc, giá trị cũng như cách cảm nhận từng tác phẩm riêng về loại hình nghệ thuật độc đáo này. Trước khi nghe lại băng thu âm NSND Quách Thị Hồ hát: “Hồng hồng tuyết tuyết” thì chương trình đã giới thiệu rõ hơn bài thơ Đào Hồng Tuyết của nhà thơ Dương Khuê để cho thính giả hiểu thêm về xuất xứ và nội dung câu chuyện. NSƯT Trần Thị Tuyết cho biết, ca trù hay còn gọi là hát ả đào mà bắt nguồn từ thể loại hát nói là một loại hình nghệ thuật độc đáo ở phía Bắc vì có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc và văn chương. Ở đó sự phối hợp giữa thơ và nhạc đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Chính vì thế trong thời kỳ trước năm 1954, ca trù được các giới trí thức, quý tộc ưa chuộng và ở thời phong kiến chủ yếu chỉ được phục vụ trong cung vua phủ chúa.
Thế nhưng một câu hỏi được đặt ra là dù có giá trị nghệ thuật cao sang như vậy nhưng tại sao ca trù càng ngày càng mất đi chỗ đứng trong lòng công chúng khán giả? Trong ký ức của NSƯT Trần Thị Tuyết, NSND Quách Thị Hồ, NS Hà Thị Cầu, NS Nguyễn Thị Chúc, NS Hồng Liên hay NS Bạch Liên từ bé đã được những thế hệ đi trước truyền nghề để trở thành những đào nương nổi tiếng. Chính vì sự thành công đó mà các NS này đã trở thành chủ nhà hát ngay chốn Hà thành. Tuy nhiên sau Cách mạng Tháng 8 thành công, do dư luận đàm tiếu của xã hội, loại hình nghệ thuật này bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến cũ nên hầu hết họ đều bỏ nghề. Ca trù không rõ vì lý do gì lại được xếp vào trò chơi hư hỏng và trụy lạc? Đây cũng là lý do lịch sử để những thế hệ đi trước không muốn truyền nghề cho con cháu. NSƯT Trần Thị Tuyết nhớ lại: “Mặc dù có giọng ca tốt, biết nhiều cách hát ca trù nhưng mẹ tôi là nghệ nhân Nguyễn Thị Phúc đã không dạy hát cho chúng tôi, vì thế bài nào tôi biết được chỉ là hát theo chứ không có kỹ thuật gì cả”. Vào thời điểm này, cầu nối giữa hai thế hệ đã bị phá bỏ nên dấu chấm hết của ca trù gần như đã được báo trước. Họ không muốn cho con cháu mình phải mang tiếng “xướng ca vô loài” mà xã hội đã có cách nhìn khinh rẻ. Những bài ca Tỳ bà hành, Gửi thư, Thét nhạc một thời thể hiện khí tiết nam nhi và các cung bậc tình yêu đôi lứa bây giờ chỉ còn là ký ức của người đương thời. Không được hát trên sân khấu, những nghệ nhân chỉ biết gửi gắm tâm sự của mình qua lời hát ru con lúc trưa vắng hay những bữa tiệc nhỏ trong gia đình. Như vậy họ mới có dịp làm sống lại không gian lễ hội giữa đình làng mà bây giờ dễ gì có được.
Bảo vệ ca trù
Nhưng cái đẹp luôn luôn vĩnh cữu, nhất là cái đẹp tinh thần thì không bao giờ mất đi và không để cho thời gian bào mòn theo năm tháng. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, khi chiến tranh đã không còn trên đất nước, cùng với tự do độc lập ca trù lại được hồi sinh. Năm 1976 đã trở thành ngày sinh lần thứ 2 của bộ môn nghệ thuật đặc sắc có một không hai này khi GS. Trần Văn Khê từ Pháp trở về Hà Nội tìm gặp lại những “báu vật” sống của ca trù. Không chỉ gặp gỡ giao lưu rồi lặng lẽ ra đi, GS. Khê đã tìm mọi cách để ghi âm các giọng ca vàng hiếm hoi còn sót lại với kỹ thuật “đổ hột” và “nảy hạt” điêu luyện để mang đi giới thiệu với thế giới. Tiếng hát ca trù đẹp như một tòa nhà lâu đài nguy nga, lộng lẫy lại được cất lên trong những không gian đậm chất nghệ thuật. Công sức của GS. Khê bỏ ra không uổng khi giúp bạn bè thế giới tìm lại được “mỏ vàng” quý giá về âm nhạc truyền thống ở Việt Nam bấy lâu nay đã bị lịch sử lãng quên. Hai năm sau, Hội đồng Âm nhạc quốc tế của UNESCO và Viện Nghiên cứu quốc tế về âm nhạc đã đánh giá cao những giá trị vô giá của thể loại nghệ thuật ca trù gần như bị “tuyệt chủng”. Riêng NSND Quách Thị Hồ – vốn được mệnh danh là “sênh phách giọng sầu gửi bóng mây” – đã được các tổ chức trao tặng bằng danh dự cho công lao gìn giữ một di sản nghệ thuật truyền thống quý báu của Việt Nam, một vốn quý của nhân loại. Từ điểm xuất phát đó nhiều băng ghi âm của các nghệ nhân ca trù khác có điều kiện chắp cánh bay xa tới mọi miền đất để những giá trị vàng của nền âm nhạc Việt Nam được khẳng định. Bất ngờ hơn, tại Liên hoan quốc tế về âm nhạc truyền thống châu Á ở Triều Tiên năm 1983, băng ghi âm tiếng hát ca trù của NSND Quách Thị Hồ đã được xếp hạng nhất. Đáng quý hơn, bộ phim tài liệu về các giọng ca một thời như Nguyễn Thị Phúc, Phó Thị Kim Đức, Chu Văn Du, Nguyễn Thế Tuất (phim Nghệ thuật ca trù của đạo diễn Ngô Đặng Tuất) một lần nữa làm cho nghệ thuật ca trù có cơ hội “phục sinh” sau khi trải qua những thăng trầm đau đớn để đến được “niết bàn”. Cũng từ đây ca trù đã khôi phục và trở lại nguyên giá trị của nó.
Theo đánh giá của các chuyên gia âm nhạc quốc tế, nét đặc sắc nhất của ca trù vừa là thanh nhạc vừa là khí nhạc trong khi ngôn ngữ âm nhạc lại vô cùng tinh vi và tế nhị. Những băng ghi âm đĩa CD hiện nay dù có bị thời gian làm mai một nhưng giá trị văn hóa và tinh thần của nghệ thuật ca trù thì vẫn sống mãi với thời gian. Viên ngọc quý trong kho tàng nghệ thuật âm nhạc truyền thống dân tộc đã được bảo tồn và mài dũa để sáng đẹp hơn.
Cách đây đúng 5 năm, vào năm 2009 ca trù như có thêm sức sống khi đã được thế giới công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp cùng với một số loại hình nghệ thuật truyền thống khác của Việt Nam như hát quan họ, nhã nhạc cung đình Huế, nghệ thuật cồng chiêng và mới đây là nghệ thuật đờn ca tài tử. Hãy gìn giữ và bảo vệ những viên ngọc quý của nghệ thuật âm nhạc dân tộc dù trong thời đại và hoàn cảnh nào.
Quang Phan

Bình luận (0)