|
Để trở thành một tay thợ đúc cồng chiêng lành nghề, người thợ phải có khả năng thiên phú về âm nhạc |
Người Phước Kiều tự hào về nghề đúc đồng độc đáo có một không hai của mình. Người thợ muốn đúc được một chiếc cồng chiêng phải am hiểu văn hóa, tập tục cũng như nhu cầu thẩm thấu âm nhạc của cả một vùng đất. Dĩ nhiên, không phải bất cứ ai cũng có cái khả năng thẩm âm thiên phú đó. Vì thế, nhiều nghệ nhân cả đời đam mê với nghề vẫn không thể thỏa nguyện ước muốn truyền nghề lại cho con cháu lúc cuối đời…
Cạnh tranh bằng tài năng
“Không cần các chiêu quảng bá hay cái thương hiệu chứng nhận trên giấy tờ, sản phẩm của người Phước Kiều đứng vững trên thị trường hay không phụ thuộc vào tài năng của người thợ”, ông Dương Quốc Thuần (53 tuổi) – một tay thợ có hơn 30 năm làm nghề khẳng định. Để đúc được một sản phẩm có chất lượng, ngoài việc phải tinh mắt trong khâu chọn nguyên vật liệu, chọn đất nặn khuôn đúc, người thợ còn phải hội tụ đủ các tư chất: Lòng kiên nhẫn, sự tài hoa và một chút lãng mạn của người nghệ sĩ. Khâu quan trọng đầu tiên để cho ra một sản phẩm có hoa văn tinh tế đó là nặn khuôn đất sét. Từ việc nhồi đất, làm bìa, giáp khuôn, thép khuôn, trổ điệu… Tùy sản phẩm mà làm khuôn sống (dùng một lần) hoặc khuôn bền (dùng nhiều lần). Cũng tùy sản phẩm, thợ đúc làng áp dụng những kỹ thuật khác nhau trong việc nung khuôn, nấu kim loại, rót khuôn và ra khuôn. Mỗi gia đình có bí quyết pha chế hợp kim riêng để đúc. Như đồng đỏ, đồng thau (đồng pha thiếc), đồng (đồng pha nhôm), đồng xanh (đồng pha kẽm) và đồng thòa (đồng pha vàng). Tiếp đó, khâu làm nguội chính là công đoạn cuối trong việc quyết định chất lượng sản phẩm.
Người theo nghề đúc đồng nói chung và đúc cồng chiêng nói riêng trước hết phải có tính kiên nhẫn. Ngoài ra, phải luôn luôn bắt nhịp được với nhu cầu thị hiếu của khách hàng. “Muốn thành thợ giỏi, không còn cách nào khác chính người thợ đó phải am tường âm nhạc. Nắm được quy luật nhạc khí trong tiếng chiêng, cồng xem cồng chiêng của dân tộc nào thuộc bộ vỗ, còn dân tộc nào thuộc bộ gõ. Ví dụ người Ê Đê có 6 chiếc thuộc bộ gõ. Còn người Gia Rai có 7 chiếc thuộc bộ vỗ, nhưng bây giờ âm nhạc đa dạng hơn nên họ sử dụng 11 chiếc (3 cồng, 8 chiêng)…”, ông Thuần cho hay. “Khi một cái chiêng đổ ra từ khuôn đúc, đánh lên nó vẫn kêu nhưng chưa phải là tiếng chiêng. Đây chính là chi tiết khẳng định rõ nhất tài năng thẩm âm và đôi tay nhạy cảm của người thợ lành nghề. Bằng khả năng thiên phú của mình, người thợ phải biết mài, dũa sao cho mặt chiêng đều, không có nếp răn, không có độ vênh để khi đánh lên tiếng nó mang âm hưởng của một nhạc khí, vang xa và ngân vọng. Khách hàng dựa vào tiếng ngân vang ấy để chọn sản phẩm hợp với thị hiếu âm nhạc của dân tộc họ. Sản phẩm đắt khách nhờ điều đó”, ông Thuần khẳng định.
Nghề chọn người
“Với công việc khác, người chọn nghề nhưng với nghề đúc đồng thì nghề chọn người”, nghệ nhân Dương Nhi (87 tuổi) bảo thế. Bên hiên nhà ông Nhi, một tốp thợ đang hì hụi lau chùi khuôn đúc, khơi bếp than hồng tăng nhiệt độ để chuẩn bị đổ đồng vào khuôn. Theo lời chỉ dẫn của ông, hai người thợ lực lưỡng bê nồi đồng đang sôi ùng ục rót vào khuôn một cách nhanh, gọn và dứt khoát. Bếp than hồng lửa sôi xèo xèo rồi nhanh chóng bị dập tắt. Xong, ông Nhi dõng dạc, quay lại ghế rót trà nhâm nhi chờ khuôn nguội để hướng dẫn thợ làm công việc tiếp theo. “Làm ra cái khuôn đúc coi như thành công đến 50%. Thế nhưng, người đổ đồng vào khuôn lại quyết định phần lớn trong tổng thể thành công của một sản phẩm. Nếu rót không đều tay, quá nhanh hoặc chậm sẽ làm hỏng sản phẩm. Và phải xả khuôn ra để nấu lại”, ông Nhi cho biết.
Các công đoạn làm thành một sản phẩm của nghề đồng quả lắm công phu. Ấy vậy mà nghề lại nắm phần chuôi: Nghề chọn người. Vì thế có rất nhiều người suốt mấy đời cha truyền con nối rồi bỗng dưng mất nghề vì lớp sau không ai theo được. Cũng có người trước đó gia đình chưa hề làm nhưng đến đời họ bỗng dưng trở thành nghệ nhân giỏi. Ông Nhi bấm đốt ngón tay nói: “Làng đúc ngày càng thưa vắng thợ, mấy trăm hộ dân giờ chỉ còn chưa tới 20 gia đình mở lò đúc là vì lẽ không truyền nối được. Như gia đình tui đây, ba đứa con thì may mà còn có được một đứa nối nghề. Âu đó cũng là hạnh phúc lớn rồi. Đã có thể an tâm lúc từ giã cõi đời”.
May mắn hơn nhiều gia đình khác, ông Dương Quốc Thuần có 3 đứa con thì 2 người theo nghề cha. Anh Dương Ngọc Trí (30 tuổi), con trai út ông Thuần là một trong những thợ đúc trẻ nhất làng tâm sự: “Thực ra bây giờ làm nghề này may ra chỉ mong đủ sống chớ chẳng giàu có gì. Nhiều lúc định bỏ nghề đi làm công việc khác cho cuộc sống các con sau này đỡ vất vả hơn. Thế nhưng nhiều khi thấy cha trăn trở, tôi cũng không đành bỏ. Vả lại cha thường nói, nghề chọn người chứ không phải ai muốn cũng được, có người học cả đời cho đến khi tuổi xế chiều vẫn không thể đúc được một cái chiêng. Mình có cái khả năng mà không phải ai muốn cũng có nên chỉ cần cố gắng chút xíu là đảm bảo được cuộc sống vừa nối được nghiệp của cha ông”.
Nắng trước hoàng hôn chiếu xiên qua làng. Bóng những người thợ sau một ngày lao động cật lực đang tất tả thu dọn khuôn đúc, than củi trải dài theo bóng nắng. Những chiếc chiêng vừa ra lò được xếp cẩn thận lên giá đỡ. “Mất bao lâu để hoàn thiện một bộ cồng chiêng?” – tôi hỏi. Ông Nhi trả lời: “Còn tùy. Tùy theo quan niệm mà cồng chiêng của mỗi dân tộc có từ 6 đến 18, thậm chí 32 chiếc. Thời gian hoàn thành kéo dài theo số lượng. Cũng tùy vào sự bay bổng của tâm hồn người thợ”. Còn ông Dương Quốc Thuần cười hiền: “Nghề đúc không giàu có nhưng là của hồi môn của cha ông để lại. Không mua được nhà lầu xe hơi nhưng có thể nuôi sống gia đình và cho con ăn học. Không ai phải bỏ nghề vì đứt bữa, thiếu áo. Chỉ trăn trở một điều rằng nghề muốn truyền nhưng không dễ nối!”.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên


Bình luận (0)