|
Danh tiếng làng đúc Phước Kiều giờ chỉ còn vỏn vẹn vài người lành nghề đúc cồng chiêng
|
Về Phước Kiều bây giờ, khó khăn lắm mới nghe được âm thanh của các lò đúc. Bấm đốt ngón tay, cả làng chỉ còn chưa tới 20 hộ dân làm nghề đúc, trong số đó chỉ còn có vỏn vẹn 5 hộ đúc được cồng chiêng…
Ngắc ngoải hồi sinh
Hôm về Phước Kiều, ông Huỳnh Hiền, Trưởng thôn ở đây bảo Phước Kiều là làng có nghề đúc với bề dày truyền thống hàng trăm năm, đặc biệt là các sản phẩm lưu giữ văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ấy vậy mà vào làng, phải mất khá nhiều thời gian tôi mới tìm ra được những gia đình còn giữ nghề đúc cồng chiêng. Ông Dương Quốc Thuần (53 tuổi) tâm tư, cả làng nghề bây giờ còn độ 5 hộ biết làm cồng chiêng, số còn lại tầm 15 hộ cũng giữ lửa nghề đúc nhưng chủ yếu là đúc đồ gia dụng đơn giản. Nguyên nhân khiến làng nghề ngày càng vắng bóng lò đúc một phần do nghề khó truyền nối. Đơn cử như nhiều gia đình có đến ba bốn đời làm nghề nhưng các thế hệ kế tiếp không mấy ai đam mê, không có năng khiếu thẩm âm. Thế là… đứt nghiệp truyền nối! Phần khác, kinh tế thị trường cuốn bao người trẻ vào vòng xoáy kiếm tiền. Chẳng mấy ai mặn mà với nghề đúc: Tay quai tay búa, khuôn đúc đẫm mồ hôi. Cật lực tối ngày chỉ đủ đong gạo bữa. Nghề đúc đồng gần như tất thảy đều lận đận, chưa thấy ai giàu. Nghề đi vào ngõ cụt. “Ngày trước, hầu như gia đình nào cũng có lò đúc đỏ lửa thâu đêm suốt sáng. Con cái lớn lên đều theo chân cha mẹ đi nặn khuôn, nấu đồng. Nhưng những năm gần đây không còn mấy người biết nghề đúc”, ông Thuần trăn trở.
Làng đúc Phước Kiều hồi sinh mạnh mẽ nhất là từ sau khi “không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Còn nhớ sau cái đận gần như ngắc ngoải thất truyền người mê nghề đúc ở Phước Kiều vui như mở cờ trong bụng. Đặc biệt là với những nghệ nhân cao tuổi như ông Dương Ngọc Sang, Dương Ngọc Thắng, Dương Tiển, Dương Quốc Thuần… Ông Thuần vẫn nhớ như in hồi đó dấu chân ông in khắp lối mòn đến các bản làng người Ê Đê, Gia Rai, Cơ Ho… đánh thức vốn văn hóa cồng chiêng gần như đã ngủ quên bên xó bếp của nhiều gia đình đồng bào thiểu số. “Ngăn chặn nạn chảy máu văn hóa cồng chiêng may ra nghề đúc mới khỏi thất truyền!”. Rồi cái ước mơ đau đáu bấy lâu thành hiện thực. Những đơn đặt hàng cứ tới tấp dội về… Kể từ đó để đáp ứng nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ cũng như rút ngắn thời gian chế tác, nghệ nhân đúc Phước Kiều chuyển một phần lao động thủ công sang làm máy móc. Nghề cũ, cách làm mới. Công việc của người thợ nhờ đó đỡ nhọc nhằn hơn. Thu nhập cũng khấm khá hơn. Coi như qua được cái đận thất truyền. Ông Thuần cho biết: “Từ khi không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận thêm vào đó, UBND tỉnh Quảng Nam quyết định hỗ trợ ban đầu 250 triệu đồng cho dự án “Phát triển làng nghề đúc đồng Phước Kiều” theo hướng du lịch sạch. Bên cạnh việc giữ gìn uy tín và thương hiệu làng nghề, còn gắn với hướng du lịch văn hóa làng nghề, vừa bán sản phẩm làm ra, vừa trình diễn sản xuất để thu hút khách tham quan. Vậy là nghề đúc đồng ngắc ngoải bấy lâu đã có cơ hội sống lại”.
Nỗi lòng người giữ lửa
Lò đúc đã được khơi lại lửa hồng. Dẫu vậy, những nghệ nhân thuộc thế hệ trước vẫn không khỏi lo lắng về nghề mai một khi lớp người như họ khuất bóng núi. Ông Dương Ngọc Tiển (72 tuổi) tính nhẩm: “Cả làng có chưa tới chục thợ trẻ thạo nghề, đặc biệt là nghề cồng chiêng. Muốn tìm lại thời vàng son trong quá vãng, trước hết cần phải có những tay thợ thực sự đam mê và lành nghề. Chính tài năng của họ sẽ làm nên thương hiệu của làng nghề. Có điều, hiện nay lớp thợ già như chúng tôi còn có dăm bảy người, lớp trẻ cũng ít lắm. Trăn trở nhiều nhưng việc đào tạo không phải dễ dàng”. Một nguyên nhân khác đang là vấn đề hiện hữu khiến những người cả cuộc đời gắn bó với khuôn đúc lo lắng đó là thời gian gần đây, chạy theo nhu cầu kinh tế thị trường, nhiều người lại tìm tới các nơi khác mua đồ đồng về bày bán, lấy thương hiệu Phước Kiều. Cái lợi trước mắt vô tình hay hữu ý đánh chết thương hiệu vốn có từ lâu đời của Phước Kiều mà cha ông họ đã dày công gây dựng.
Ông Dương Quốc Thuần, một người có thâm niên trong nghề đúc từng ăn dầm ở dề với đồng bào các bản làng Tây Nguyên trong các dịp lễ hội cồng chiêng khẳng định: “Ngoài lượng cồng chiêng làng Phước Kiều cung cấp phục vụ cho những sinh hoạt lễ nghi của người Kinh, tính riêng khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên suốt gần 200 năm qua ước trên 35.000 bộ các loại. Con số ấy chứng minh một điều rằng nghề đúc của làng Phước Kiều đã góp phần không nhỏ trong kho tàng di sản phi vật thể của nhân loại: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên”. Vì vậy, muốn giữ gìn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, trước hết phải giữ làng nghề Phước Kiều. Để làm được điều đó, chính bản thân các nghệ nhân cần có sự phối kết hợp tạo nên sự gắn kết trong giữ gìn, bảo tồn nghề truyền thống. Và cả sự vào cuộc của các ban ngành liên quan”.
Chia tay Phước Kiều, tôi mang theo nỗi niềm trăn trở của người thợ tài năng Dương Quốc Thuần. Có lẽ, nghề đúc như cái nghiệp tổ đã ngấm vào máu thịt của những người thợ tài hoa sống trọn nghiệp đam mê ấy. Mỗi ngày họ vẫn mải miết tìm cách gây dựng lại, giữ gìn tiếng tăm làng nghề truyền thống của mình.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
| Mong sao lửa lò đúc Phước Kiều sẽ được giữ mãi như niềm tự hào trong khúc đồng dao: Trống Lâm Yên, chiêng Phước Kiều! |


Bình luận (0)