Kỳ cuối: Một cuộc đời bất hạnh, cô độc
|
Di chúc và huân chương của Nobel để lại sau khi ông qua đời
|
Có lẽ vì những năm tháng cống hiến không biết mệt mỏi cho khoa học, cho những phát minh sáng chế vĩ đại đối với nhân loại mà Alfred Nobel đến cuối cuộc đời vẫn không tìm được một mái ấm gia đình trọn vẹn.
Mối tình dang dở
“Tôi không có được một gia đình làm nơi thả neo, không có bạn để yêu thương, cũng không có kẻ thù để căm ghét”. Đó chính là những gì mà Nobel dùng để nói về cuộc đời của mình. Những công trình nghiên cứu khoa học, các phát minh cũng như các công ty giúp mang lại cho ông một khoản tiền kếch xù nhưng càng giàu có thì khao khát một gia đình êm ấm lại càng trở nên mãnh liệt với ông. Có nhiều người cho rằng ông không tìm hạnh phúc của mình thời tuổi trẻ là do tình cảm quá lớn đối với mẹ khiến ông không thiết tha gì với những người con gái khác. Cũng có một số ý kiến khác cho rằng mối tình đầu đẹp đẽ nhưng ngắn ngủi với cô gái Pháp khi ông sống tại Paris đã tạo một cú sốc quá lớn khiến ông trở nên lãnh cảm với tình yêu. Cô gái đó là Bertha von Suttner.
Năm 1876, Nobel cho đăng mẩu tin tìm thư ký riêng trên một tờ báo dành cho quý tộc ở thành Vienna (thủ đô nước Áo) với lời rao: “Một người đàn ông đã nhiều tuổi, có học, giàu có, sống ở Paris, xin mời một phụ nữ trung niên, biết vài ngoại ngữ, làm thư ký kiêm quản gia”. Lúc bấy giờ Nobel đã 43 tuổi và là một trong những người giàu có bậc nhất châu Âu. Tuy nhiên, cuộc sống ông chỉ biết đến nghiên cứu và phát minh, ngôi nhà trống trải không có bóng dáng của một người phụ nữ. Lời rao trên báo của ông không chỉ có nghĩa ông cần tìm một thư ký, mà còn muốn tìm một người để trò chuyện và san sẻ những năm tháng tuổi già. Trong số các bức thư trả lời, có thư của cô Bertha Freifrau Kinsky von Wchinitz und Tettau. Vì suy sụp về tài chính, nên dù xuất thân từ dòng dõi quý tộc nước Áo, cô Bertha Kinsky lúc ấy đang phải di dạy thêm để kiếm sống. Nobel đặc biệt chú ý đến thư trả lời của Bertha Kinsky, một ứng cử viên đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tuyển người của ông. Ngay sau đó ông liền trợ cấp cho Bertha sang Paris và mướn một phòng ở khách sạn Grand Hotel cho cô ở. Ngay lần gặp gỡ đầu tiên cả Nobel lẫn Bertha đều có thiện cảm với nhau. Ngay cái nhìn đầu tiên, Nobel đã bị hút hồn bởi phong cách điềm đạm cũng như thông minh của cô gái quý tộc có học thức này, còn đối với Bertha, Nobel cũng đã tạo ra một ấn tượng mạnh mẽ, bà viết trong nhật ký của mình “Alfred Nobel đã gây cho tôi cảm tưởng dễ chịu. Bài đăng báo của ông với tư cách của “một ông già” nên tôi chờ đợi một người đau khổ với tóc muối tiêu và bộ râu trắng bạc thì ra ông chỉ mới 43 tuổi hơi nhỏ thó, nhưng không xấu, không đẹp và cách diễn tả thường buồn, mắt màu xanh sáng”.
Sau khi đồng ý cho Bertha làm thư ký riêng đặc biệt, Nobel ngày càng tỏ ra có thiện cảm với người con gái thông minh và xinh đẹp này. Một ngày, ông đưa Bertha đến một cánh rừng nhỏ tại Paris mang tên le Bois de Boulogne, nơi các đôi nam nữ Paris vẫn thường đến để hò hẹn. Sau một hồi trò chuyện, Nobel không thể kìm lòng được để rồi thốt lên “Tim cô có còn tự do không”. Câu hỏi tưởng chừng chỉ như một lời tỏ tình ngọt ngào nhưng đối với cô thư ký xinh đẹp lại gợi nhớ một câu chuyện buồn. Trước khi đến làm việc cho Nobel tại Paris, bà đã từng làm quản gia cho một gia đình quý tộc tại Vienna, bà và Nam tước Arthur von Suttner đem lòng yêu thương nhau nhưng gặp phải sự phản đối từ gia đình ông. Không còn sự lựa chọn nào khác, bà ra đi sau ba năm làm việc tại đây. Khi đọc được lời rao trên báo của Nobel, bà đã nghĩ đây là một cơ hội rất tốt để có thể quên đi mối tình cũ và đồng thời có được công việc ổn định. Thông tin này khiến cho Nobel cũng thoáng buồn nhưng ông cũng cảm thấy yên tâm và hy vọng một ngày tình cảm của bà với Nam tước Arthur von Suttner sẽ nguôi ngoai.
Thế nhưng chỉ một tuần sau khi nhận việc, Nobel đi công tác về và nhận được một lá thư của Bertha báo tin rằng bà phải nhanh chóng trở lại nước Áo do lời cầu xin của hai cô học trò cũ và cũng là hai người em gái của Nam tước Arthur von Suttner. Bà gửi lời xin lỗi đến Nobel và vô cùng cảm ơn vì sự đón tiếp rất nhiệt tình cũng như tấm lòng quý mến của ông dành cho bà. Bertha sau đó đã trở về Áo và âm thầm cùng với Arthur tổ chức lễ cưới vào ngày 12-6-1876. Tuy nhiên, việc lấy chồng không khiến cho mối quan hệ tốt đẹp trước đó giữa bà với Nobel tiếp tục phát triển, dù chỉ với tư cách là hai người bạn không hơn không kém. Họ thư từ qua lại để tâm sự, trao đổi về rất nhiều vấn đề như văn thơ, hòa bình… Mối thâm tình này kéo dài cho đến lúc Nobel rời khỏi cõi đời.
Với cô gái bán hoa Sophie Hesse
Sau mối tình vừa chớm nở đã vội tàn với Bertha, Nobel bước vào một cuộc tình khác với một cô gái bán hoa trẻ đẹp tại Vinena, Sophie Hesse. Không biết có phải do hờn giận vì mối tình dang dở với Bertha hay không nhưng mối quan hệ tình cảm này khiến những người quen của Nobel rất kinh ngạc bởi cô gái nhỏ hơn ông 23 tuổi này là một người có tính cách nông nổi, bay bướm, kiêu ngạo, phung phí và đặc biệt là có trí tuệ rất tầm thường. Có thể ông đã hy vọng Sophie sẽ trở thành một Bertha thứ hai để giúp ông khỏi cô đơn lúc tuổi già, nhưng lối sống phóng túng của người vợ mới khiến ông không thể chịu đựng được sau 18 năm chung sống. Dù chấm dứt mối quan hệ sai lầm này và không bao giờ gặp lại Sophie, nhưng ông vẫn đối xử rất chu đáo với bà, vẫn chu cấp đầy đủ các khoản chi phí mà bà đòi hỏi, thậm chí trong di chúc Nobel cũng đã để lại cho Sophie một khoản tiền hậu hĩnh.
Sự ra đi của ông cũng diễn ra trong cô độc, lặng lẽ. Những người hàng xóm láng giềng cũng không được biết ông đã chết lúc nào, không ai ở bên cạnh khi ông trút hơi thở cuối cùng. Vào sáng hôm sau, khi ông quản gia bước vào thì đã thấy ông tắt thở từ trước, chấm dứt cuộc đời của một nhà sáng chế đại tài, một nhà tài phiệt có hạng ở châu Âu nhưng phải sống trong dằn vặt và cô đơn.
Minh Hiền
| Trải qua hai (hay cũng có thể nói là ba nếu tính đến mối tình đầu với cô gái Pháp) mối tình dang dở, Nobel cho đến lúc nhắm mắt vào ngày 10-12-1896 tại Sanremo, Ý, vẫn không thể tìm được cho mình một mối tình trọn vẹn. |


Bình luận (0)