Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Người tình báo của hai cuộc kháng chiến: Kỳ 2: Số làm tình báo

Tạp Chí Giáo Dục

Ông Tư Cang (thứ 2 từ phải qua) cùng đồng đội dự lễ mít tinh mừng chiến thắng tại Dinh Thống Nhất ngày 1-5-1975 (ảnh nhân vật cung cấp)

Dù học hành chưa đến đâu nhưng nhờ vốn liếng tiếng Anh và tiếng Pháp, cộng với biệt tài bắn súng ngắn bằng cả hai tay, gan dạ và mưu lược mà đồng chí Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) được chọn vào ngành tình báo.
Ngày 25-8-1945, Nguyễn Văn Tàu cầm tầm vông cùng thầy giáo cũ Lưu Văn Vầy (lúc đó là thủ lĩnh Thanh niên Tiền phong tỉnh Bà Rịa) vào gặp chánh chủ tỉnh chính quyền thân Nhật, nhận sự bàn giao chính quyền về tay nhân dân. Những ngày sau đó, Tàu gia nhập cơ quan quân báo tỉnh Bà Rịa. Ngày Pháp ký Hiệp định Genève, Tàu trở thành chỉ huy phó lực lượng quân báo của tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn, kiêm Tổ trưởng quân báo liên huyện Cần Đước – Cần Giuộc – Nhà Bè.
Người chỉ huy mưu lược
Sau 7 năm (từ 1954-1961) tập kết trở về miền Nam, ông nhận nhiệm vụ Cụm trưởng tình báo H.63. Sau Mậu Thân, ông là Chủ nhiệm chính trị, Chính ủy Phòng Tình báo Bộ Tham mưu B2, Bộ Quốc phòng.
Đại tá Tư Cang cười sảng khoái bảo rằng ông làm tình báo là do số phận. Ông lý giải về cái số, cái phận ấy: “Tôi đã bỏ trường làng đi học chữ Nho để mở tiệm thuốc nhưng không được. Muốn học cao để thành giáo sư cũng không xong”. Ngày tháng ở miền Bắc, vì biết trước thế nào trở về Nam cấp trên cũng điều mình hoạt động bí mật nên tự học viết văn, làm báo, chụp ảnh, lái xe, thợ máy, bắn súng, luyện võ… Hai thứ tiếng Anh và Pháp ông đã giỏi nhưng không lúc nào ông không trau dồi thêm. Mới làm quen với súng ngắn nhưng thứ hạng ông chỉ đứng sau 3 kiện tướng lúc bấy giờ ở miền Bắc là Hồ Xuân Kỷ, Trần Minh và Trần Oanh. Đặc biệt, ông có biệt tài bắn súng ngắn bằng cả hai tay, đó là một trong những điều kiện để trở thành một nhà tình báo.
Tháng 4-1962, tại chiến khu Dương Minh Châu, Tây Ninh ông nhận nhiệm vụ chỉ huy Cụm Tình báo H.63. Đây là cụm tình báo phục vụ hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn hoạt động ở nội đô Sài Gòn. Năm 1967, tổ chức giao một nhiệm vụ đặc biệt: “Đảng bạn phóng điệp viên đi nhưng bị đứt liên lạc, nhờ Đảng ta nối lại”. Rõ ràng nhiệm vụ không hề đơn giản. Điệp viên được chọn thi hành nhiệm vụ theo ông Tư Cang là một điệp viên tầm cỡ như Phạm Xuân Ẩn mới có thể tiếp cận đối tượng để đưa một lá thư kèm ảnh. Ông Tư Cang nói với ông Ẩn: “Thi hành nhiệm vụ này có thể xóa lưới tình báo H.63. Anh có thể hy sinh”. Bữa cơm trưa tại nhà hàng Victory thuộc trung tâm Sài Gòn, hai người bàn tính lần cuối trước khi thi hành nhiệm vụ. Theo tính toán, sáng hôm sau ông Tư Cang sẽ đưa ông Ẩn đến Đại sứ quán, nơi mà mọi người sẽ ăn tiệc mừng ngày thành lập nước để gặp người cần đưa thư. “Nếu tụi nó bắt anh thì sẽ xuống bắt tôi. Tôi sẽ khử vài thằng bằng khẩu ru lô rồi anh em mình cùng hy sinh”, Tư Cang xua tan lo lắng hiện rõ trên gương mặt điệp viên Ẩn.
Chia tay ai về nhà đó. Trong đêm, ông Ẩn thức trắng để chuẩn bị lời khai cho vợ, đề phòng mình bị bắt hoặc có thể hy sinh. Tư Cang cũng không tài nào ngủ được vì nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, không khéo là cả mạng lưới tình báo bị xóa sạch. Về sau, ông Ẩn kể lại với ông Tư Cang: “Tôi đã trải qua 15 năm trong nghề tình báo nhưng khi thi hành nhiệm vụ chân trái vẫn cứ run, không kìm lại được, cũng may là nhiệm vụ hoàn thành”.
Hai lần thoát chết hy hữu
Ông Tư Cang nói: “May mắn trong cuộc đời làm tình báo của tôi là ra vào, ăn ngủ trong lòng địch, đối diện trước cái chết biết bao lần mà chỉ thương tật 61% (thương binh hạng 2 – PV)”. Đó là những vết thương ở đầu, mắt cá chân hay bị đạn súng ngắn xuyên thủng ruột phải cắt bỏ một đoạn. Ảnh hưởng nặng đến sức khỏe của ông về sau này là cái bụng thường trở chứng đau. Như ông nói vui: “Cứ 10 ngày nửa tháng nó lại đau. Lần đau thì nằm chừng 5-10 phút là khỏi. Mấy bữa nay im re, tự nhiên có nhà báo tới thì phát đau”. Cơn đau khiến ông phát mệt, phải cáo lỗi đi nằm, khỏe lên chút thì vừa nằm vừa kể chuyện.
Năm 1966, lúc đó ông là Thiếu tá Cụm trưởng Cụm Tình báo H.63. Chiều hôm đó, ông Tư Cang cùng đồng chí Năm Hải vào ấp chiến lược Phú Hòa Đông (Củ Chi) để giao nhiệm vụ cho cô giao thông. Trở ra khỏi vùng nguy hiểm nên có chút lơ là, bị vướng mìn nổ vang trời. Hai người chạy ngược về hướng ấp chiến lược. Đến một bụi cây cao, cả hai nấp vào đó, thở hổn hển. Tư Cang hỏi: “Cái gì vậy anh?”, Năm Hải trả lời: “Mo”. Thì ra là mìn Claymore của Mỹ mà vì mệt quá, đồng chí Năm Hải chỉ có thể nói “cộc” như thế. Điều làm cả hai ngạc nhiên là một quả mìn Claymore có đến 230 viên bi sắt nén trong thuốc nổ mạnh C4, đằng này có đến 10 trái, tức có tổng 2.300 viên bi mà cả hai còn sống, không bị thương. Cả hai trở ra xóm nhà dân ăn cơm chiều thì mọi người hỏi: “Mấy ông đánh thế nào mà nổ lớn quá, tụi nó lớp khiêng, lớp dìu chạy tán loạn”. Tư Cang hỏi tới: “Khiêng mấy khiêng?”. “Nhiều lắm không đếm xuể”, bà con ở đây cho biết thế. Với thông tin này thì cả hai cũng chưa lý giải nổi chuyện gì đã xảy ra. Mãi đến khi gần sáng lặn hụp ở sông để về căn cứ thì mới được các đồng chí thông tin: “Bọn địch vào phục kích nhưng đặt mìn ngược nên chúng thương vong dữ lắm”. Thì ra địch đặt mìn là để đánh đồng chí Tư Cang và Năm Hải. Trở lại nơi đã phát ra tiếng nổ kinh hoàng ấy, ông Tư Cang mới giật mình, đúng là hy hữu vì cả hai người thoát chết sau loạt mìn Claymore nổ tung chỉ cách chỗ đứng không quá 5 mét.
Lần khác, năm 1964, ông Tư Cang nhớ má mà vì nhiệm vụ không thể về thăm đành nhờ người nhắn má lên căn cứ Bến Đình. Má dắt theo đứa cháu mới lên 4, tên Lê Thị Như Lan. Người kia chở má bằng xe đạp. Ông Tư Cang bồng cháu đi bộ vào đường tắt nhưng không may khu vực đó có một hầm chông do du kích ta đào từ nhiều năm trước. Ông rớt xuống hầm chông, trên tay vẫn còn ôm đứa cháu chặt cứng. Con bé điếng hồn nhưng không khóc. Điều khó hiểu nữa là dưới hầm có 5 cây chông nhọn hoắt nhưng cả hai thoát chết. Khi đưa cháu lên khỏi hầm, bình tĩnh nghĩ mình thoát chết là nhờ bước chân đã dẫm lên ngọn của một cây chông nằm giữa, làm nó ngã ra. Chiếc dép bị chông cắt đứt khi dẫm lên là bằng chứng.
Trần trọng tri
Từ ngày được tuyển chọn vào ngành, tổ chức yêu cầu ông đổi tên thành Trần Văn Quang. Cái tên này đã theo ông suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Đến kháng chiến chống Mỹ, người tình báo này lại có một cái tên khác và đến nay người ta vẫn thường gọi là Tư Cang.
Kỳ 3: Cùng Phạm Xuân Ẩn nhập vai

Bình luận (0)