Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Về với Cánh Hòm: Kỳ 1: Dòng sông chảy trong trí nhớ

Tạp Chí Giáo Dục

Gần 400 năm mang sứ mệnh “kết duyên” cho hai dòng sông Thạch Hãn và Bến Hải huyền thoại từng đi vào những trang sử vẻ vang của dân tộc trong hai cuộc trường chinh kháng chiến, con sông Cánh Hòm thuộc huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị oằn mình qua bao thăng trầm dâu bể rồi giờ đi vào quên lãng từ chính con người…
1. Dọc dặm dài đất nước Việt Nam có hàng vạn con sông đựơc tạo hóa nặn hình, buông mình như dải tóc dài óng ả của cô thiếu nữ 18 chảy xuôi theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Sau khi rời dãy Trường Sơn hùng vỹ, chảy qua những làng mạc để tưới tắm phù sa bồi đắp đôi bờ tốt tươi trù phú, sông thong thả buông mình hòa vào biển cả. Nhưng có một dòng sông lại không nằm trong cái định mệnh chung ấy là sông Cánh Hòm. Nó được nên dạng hình hài bởi bàn tay con người tạo dựng.
Tôi trở về tìm lại dòng sông theo những câu thơ ngọt ngào hoài vọng của cố nhà thơ Tạ Nghi Lễ – người con sinh ra ở một miền quê nghèo bên triền thượng nguồn sông Cánh Hòm. Dẫn chúng tôi ra bờ sông, ông Nguyễn Sinh (80 tuổi), một người dân làng Lâm Xuân (xã Gio Mai) nói: “Ngày trước, con sông này rộng lắm, đáy nước lại sâu hút chớ không bị bồi lấp như bây giờ”. Trong kí ức của già Sinh, con sông chở nặng phù sa ấy gắn bó tự nhiên với lũ trẻ làng như hơi thở không thể thiếu, với những buổi trốn mẹ ngụp lặn giữa dòng nước mát. Không ai biết rõ sông Cánh Hòm có tự bao giờ nhưng có điều ai cũng rõ, so với lịch sử hàng chục con sông lớn nhỏ chảy vắt dãy Trường Sơn, xẻ dọc mảnh đất Quảng Trị đổ về biển Đông thì sông Cánh Hòm lại không theo quy luật ấy. Sông được tạo lập bởi bàn tay con người, hứng trọn dòng phù sa của hai con sông lớn ở phía hạ nguồn rồi chảy song song với biển. Theo lời người xưa, sông do người Pháp trong quá trình xâm lăng, khi đi thuyền qua biển Cửa Việt gặp nhiều trắc trở nên đã huy động sức nông phu đào một nhánh sông song song với biển để tránh hiểm nguy. Còn theo Địa chí triều Nguyễn, sông Cánh Hòm là một chi lưu của sông Minh Lương (Bến Hải). Sông Minh Lương khi chảy qua ngã ba Xuân Hòa đến xã Xuân Long – đoạn hạ nguồn chia thành ba nhánh: Một nhánh chảy về phía Đông Bắc qua các xã Phúc Lý và Di Luân chừng 10 dặm qua cửa Tùng Luật; một nhánh chảy về phía Đông Nam, qua các xã Cao Xá và Cẩm Phổ chừng 9 dặm đến địa hạt huyện Gio Linh, đổ vào sông Thạch Hãn; một nhánh từ Bến Cao chảy về quanh các xã Thủy Khê, Yên Lộc và Cát Sơn hơn 10 dặm, rồi hợp nhánh trên, cũng ra cửa Tùng Luật. Nguyên vào năm thứ 3 đời chúa Nguyễn Phúc Tần (1651), nhánh sông được nạo vét đoạn chảy qua làng Cẩm Phổ. Đến năm thứ 33 (1681), trong một lần chúa đi tuần du, săn bắn ở Cổ Lâm, thuyền đi qua kênh Thị Môn (tức chỗ hợp lưu giữa sông Mai Xá với sông Cánh Hòm), người địa phương nói: Chỗ này sóng gió bất trắc, thuyền thường bị đắm. Do đó, chúa thượng muốn khai kênh mới để tiện giao thông đi lại. Lúc ấy có người xã Mai Xá tên là Thế (tức Trương Thế) vẽ bản đồ để dâng và xin khai từ Mai Xá đến quán Nhĩ Hạ. Chúa xem xong bằng lòng và ra lệnh cho dân trong bản hạt khai đào. Sau một tháng thì đào xong. Từ đó người dân đi lại được thuận tiện hơn trước.
Dưới thời vua Minh Mạng, con sông Cánh Hòm được lựa chọn trong lộ trình xuôi thuyền từ cố đô Huế ra tuần du thị sát địa giới, tham quan bãi tắm Cửa Tùng – một bãi tắm được xếp hạng là nữ hoàng của các bãi tắm… Lịch sử khéo chọn hay chính định mệnh của mình, con sông trở thành tuyến giao thông đường thủy trọng yếu cả trong cuộc sống dân sinh lẫn hai cuộc trường chinh kháng chiến của dân tộc.

Dòng sông Cánh Hòm với gần 400 năm lịch sử

2. Con sông Cánh Hòm năm xưa trong trí nhớ của những bậc cao niên là một kho chuyện dài bất tận tưởng như không có điểm dừng. Bao giờ cũng thế, mỗi lần nhắc nhớ con cháu về lai lịch con sông, ông Hồ Căn (82) tuổi, một trong những người từng sinh ra, lớn lên và có nhiều năm lăn lộn trên chiến trường phía Nam hàng rào Mcnamara (nam bờ sông Bến Hải) lại huơ tay chỉ về phía dòng sông: “Những đứa trẻ sinh ra và lớn lên ở đôi bờ sông này đều mang theo kí ức tuổi thơ êm đềm khó quên, dẫu chiến tranh, miếng cơm manh áo khiến người ta tứ tán, phiêu bạt bốn phương”.
Con sông theo hướng chỉ tay của ông Căn phẳng lặng, một vài đứa trẻ chăn trâu đầu trần ngụp lặn trong dòng nước mát, tiếng cười rộn rã một khúc sông. Phía xa, dòng nước vấp triền đồi, ngoặt mình gấp khúc và mất hút theo tầm mắt. “Tuổi thơ ngụp lặn trên sông. Thời thanh xuân trai gái dệt tình yêu trên sông. Tuổi già nhớ sông”, ông Căn nói. Thuở xa xưa những đôi trai gái đến tuổi dựng vợ gả chồng, do cuộc mưu sinh gắn liền với dòng sông nên việc tỏ tình, ướm hỏi rồi nên duyên vợ chồng đều diễn ra trên sông. Hay nói khác đi, con sông đã gắn kết cộng đồng, tình cảm xóm làng nơi nó đi qua. Có điều, theo ông Căn, cho đến bây giờ vẫn không ai lý giải được vì sao người dân sống ven sông này đều kiêng chuyện gả chồng cho con gái mình theo con nước ngược. “Từ xa xưa các cụ đã dặn gái bờ nam sông không được lấy trai bờ bắc”. “Có quy định thành văn nào về điều này không?” – tôi hỏi. “Không”! Ông Căn trả lời gọn lỏn. Không ai biết rõ đó là lời sấm truyền của người đầu tiên đặt nhát cuốc khơi thông lòng sông hay đó chỉ là một quan niệm đầy mê tín vốn dĩ tồn tại hàng thế kỉ trong dân gian. Chỉ biết rằng, cách đây 50 năm về trước, không ai dám gả con gái mình về làm dâu bờ bắc. “Sau ngày giải phóng, quan niệm ấy mới được trút bỏ. Làng bây giờ đã có vài người con gái lấy chồng ngược con nước về bờ bắc. Thế nhưng, ngẫm lại, trong số họ người tan vỡ hạnh phúc, người thì cuộc sống không mấy dư giả gì”, ông Căn buông tiếng thở dài, đôi mắt u hoài trải trên dòng sông buổi hoàng hôn lặng lẽ.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
Kỳ 2: Đôi bờ định mệnh

Bình luận (0)