Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Đường Hồ Chí Minh trên biển: Kỳ 1: Con đường huyền thoại

Tạp Chí Giáo Dục

Con thuyền của Tập đoàn đánh cá sông Gianh

 

Cửa Vàm Lũng, Cà Mau. Ảnh: M.T.Đ

 

Chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường Trường Sơn phải vài năm nữa mới có thể tới được miền Đông Nam bộ. Vì vận chuyển bằng phương tiện thô sơ, chân trèo vai vác vượt dãy núi Trường Sơn nên hết sức gian nan. Còn tới được đồng bằng Nam bộ thì lại càng khó hơn, song chiến trường Nam bộ đang đòi hỏi phải cấp bách cung cấp vũ khí, vì đó là vấn đề sống còn đối với cách mạng miền Nam. Nhất là sau phong trào Đồng Khởi, quân dân ta lấy vũ khí ở đâu để tổ chức đấu tranh vũ trang? Tầm vông, súng kíp, súng ngựa trời, súng bọc dừa bây giờ đánh không lại quân thù. Không còn cách nào khác là phải vận chuyển vũ khí vào Nam bằng đường biển.
Sau hơn một năm chuẩn bị, từ tàu thuyền, buồm lưới đánh cá, dụng cụ dây nhợ trên tàu đều do đường dây của ta vào tận Quảng Nam – Đà Nẵng mua mang ra để cho giống hệt tàu đánh cá trong ấy. Giấy tờ trang bị hợp lệ, con thuyền của “Tập đoàn đánh cá sông Gianh” với 5 thủy thủ, do thuyền trưởng Nguyễn Bất chỉ huy chở 5 tấn vũ khí và thuốc men vào Nam, xuất phát đêm 27-1-1960, tức đêm 30 Tết Canh Tý, tới bến Hồ Chuối chân đèo Hải Vân. Con tàu này ra đi và mất tích biệt tăm (mãi đến năm 1974 mới biết tin: Thuyền đi, hai ngày sau vì sóng to nên hư cả chèo lái, lại gặp tàu địch đuổi theo. Thuyền trưởng phải quyết định cho phi tang, bỏ tất cả những bọc vũ khí và thuốc men xuống biển, kiên quyết bằng mọi giá không được để lộ việc ta vận chuyển vũ khí vào Nam bằng đường biển).
Ngay sau đấy, Trung ương Cục Miền Nam nhận chỉ thị của Quân ủy Trung ương: Chuẩn bị cho người và tàu thuyền ở các tỉnh ven biển Nam bộ, ra miền Bắc lấy vũ khí. Đến tháng 8-1961, đã có năm chuyến thuyền vượt biển từ trong Nam ra. Bến Tre hai thuyền, Cà Mau một thuyền, Trà Vinh một thuyền và Bà Rịa một thuyền. Bằng những chiếc thuyền gỗ thô sơ, các chiến sĩ miền Nam vượt biển ra Bắc, mang theo cả tấm lòng tin tưởng chờ mong của đồng bào miền Nam ra báo cáo với Đảng với Bác Hồ ý chí quyết tâm kháng chiến và xin vũ khí.
Những con thuyền gỗ của miền Nam thành đồng Tổ quốc đã vượt biển ra Bắc được an toàn. Tin vui này làm Quân ủy Trung ương rất phấn khởi, tìm ra hướng vận chuyển mới mà đã hai năm nay thử nghiệm kế hoạch vẫn chưa thành công. Để chuẩn bị phương án cho chiến thuật mới, trước khi cho tàu chở vũ khí vào, đồng chí Bông Văn Dĩa và một số người trên thuyền Cà Mau nhận nhiệm vụ đưa thuyền trở lại miền Nam, có nhiệm vụ trinh sát tình hình trên biển, nắm vững quy luật tuần tra kiểm soát của tàu hải quân ngụy, nghiên cứu hệ thống điện đài trên biển, quan trọng nhất là tìm bến bãi nơi có thể đổ vũ khí xuống. Con tàu trinh sát rời bến Nhật Lệ đêm 8-4-1962. Sau 4 tháng vào Nam hoàn thành nhiệm vụ trinh sát, ngày 1-8-1962, thuyền đã trở ra, cập vào bờ biển Nam Định.
Những con tàu Phương Đông
Bông Văn Dĩa và các chiến sĩ trên tàu trinh sát lại được gặp Bác Hồ và Quân ủy Trung ương để báo cáo tỉ mỉ tình hình. Bác lắng nghe từng lời, Người đứng dậy, hai tay nắm chặt vai Bông Văn Dĩa rồi cười và khen: “Đi biển kiểu ấy thì xưa nay chỉ có Cri-xtốp Cô-lông và chú!”.
Một mặt cho thuyền quay vào trinh sát biển và bến đỗ, một mặt Xí nghiệp đánh cá sông Gianh nhận lệnh khẩn trương đóng tàu. Nghe chuyện những con thuyền vượt biển đầy gian truân trong phong ba bão táp, nhận thấy thuyền ghe từ trong Nam đưa ra chưa bảo đảm an toàn cho việc vượt biển khi thuyền còn phải vận chuyển vũ khí, nên ta đã cho đóng tàu chắc chắn và lớn hơn để có thể vận chuyển được từ 30 tấn trở lên.
Sau hơn một năm chuẩn bị, ta đã đóng được bốn con tàu. Chuyến tàu đầu tiên do Lê Văn Một làm thuyền trưởng, Bông Văn Dĩa làm Bí thư, đêm 11-10-1962 con tàu với 12 chiến sĩ, chở trên 30 tấn vũ khí, được xuất phát từ bến Đồ Sơn, không chỉ chở theo vũ khí mà còn chở cả niềm tin của Đảng của Bác Hồ và tinh thần quyết tâm giải phóng miền Nam. Con tàu này được đặt tên là tàu Phương Đông 1. Tàu không mang số mà chuẩn bị sẵn rất nhiều biển số của các tàu đánh cá cùng loại của ngư dân vùng biển Trung bộ, Nam bộ. Từ đây, các con tàu chở vũ khí vào Nam được anh em chiến sĩ ta gọi một cái tên chung là “Tàu không số”. Tàu Phương Đông 1 hướng vào Nam, mang theo lời hứa thiêng liêng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của các chiến sĩ và sự chờ mong từng phút từng giờ của Quân ủy Trung ương. Ngay sau đó là tàu Phương Đông 2, tàu Phương Đông 3 và tàu Phương Đông 4 lần lượt xuất phát, hướng vào Nam.
Sau 9 ngày đêm vượt sóng gió trên biển, tàu Phương Đông 1 đã vào đến Cà Mau, cửa Vàm Lũng, trong sự mừng vui khôn xiết của cả người trên tàu và người dưới bến. Tin vui thắng trận được báo cáo ra Quân ủy Trung ương và Bác Hồ. Bác Hồ, đồng chí Lê Duẩn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mừng đến rơi nước mắt. Bác điện vào biểu dương khen ngợi và nhắc nhở: “Hãy nhanh chóng rút kinh nghiệm, tiếp tục vận chuyển vũ khí nhanh, nhiều hơn nữa cho đồng bào miền Nam đánh giặc, cho Nam Bắc sớm sum họp một nhà”.
Để tiếp nhận vũ khí, xây dựng bến bãi và vận chuyển vũ khí tới khắp mặt trận Nam bộ, Trung ương Cục Miền Nam đã thành lập Đoàn 962 – Bến đón nhận và vận chuyển vũ khí trên bờ. Quân ủy Trung ương cho thành lập Đoàn 125 – đoàn tàu vận chuyển vũ khí vào Nam trên biển Đông, đoàn “Tàu không số”.
Nhà văn Mã Thiện Đồng

LTS: 50 năm trước, các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đã bí mật vận chuyển vũ khí vào Nam bằng con đường biển, họ chính là những người đã làm nên một kỳ tích lịch sử, làm nên huyền thoại đường Hồ Chí Minh trên biển, huyền thoại “Tàu không số”. Loạt bài Đường Hồ Chí Minh trên biển này sẽ giúp bạn đọc khám phá thêm nhiều điều tự hào về lịch sử kháng chiến chống giặc của nhân dân ta. 

 
Kỳ 2: Tết Mậu Thân trên biển

 

Bình luận (0)