|
Bà Lê Thị Chi hiện nay
|
Nhắc đến bà “chúa kho” Lê Thị Chi, đồng đội ai nấy cũng rơm rớm nước mắt kể lại câu chuyện” tù nhân không số”, con trai của bà mới 5 tuổi đã rơi vào tay địch.
Trong không khí cả nước hướng tới kỷ niệm 38 năm Ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng thống nhất đất nước, chúng tôi đã tìm gặp bà Lê Thị Chi, người được mệnh danh là “bà chúa kho” dũng cảm, can trường.
Mang nỗi hàm oan lên Sài Gòn
Bà Chi sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng ở Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Bà có 8 anh chị em nhưng có đến 3 người hy sinh. Nội bà Chi là mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Quy. Mẹ bà là Nguyễn Thị Năm, cũng là mẹ Việt Nam anh hùng. Những năm 1960, chồng bà hoạt động ở Sài Gòn. Riêng bà thời gian này tham gia cách mạng tại địa phương. Vì nhiều lý do, chồng bà đã đưa bà về Sài Gòn tham gia lực lượng bảo đảm biệt động. Từ ngày bà đi, không ít người ở đơn vị cho rằng bà chiêu hồi nên quyết truy lùng. Năm 1963, bà đã tham gia lớp an ninh 16 xã trong huyện, ai cũng biết mặt bà nhưng không dễ gì tìm được. Bà mang nỗi hàm oan ấy lên Sài Gòn, hoạt động dưới sự chỉ huy của Đại tá Tư Chu, tức Nguyễn Đức Hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Chỉ huy trưởng Biệt động Sài Gòn – Gia Định (đã mất tháng 5-2012).
Sau một thời gian ngắn ra vào cứ, nhận thấy bà lanh lợi, sớm nắm bắt được tình hình ở Sài Gòn nên chỉ huy giao nhiệm vụ cho bà trông coi một căn hầm vũ khí. Hầm vũ khí cũng là cơ sở nuôi giấu cách mạng ấy nằm trong con hẻm 110 Kỳ Đồng. Di chứng do nhiều lần bị đòn tra khảo dã man cộng với cái tuổi “nhớ nhớ quên quên”, bà Chi chỉ nhớ mày mạy căn nhà ấy số 110/16 Kỳ Đồng.
Những ngày đầu lên Sài Gòn, bà Chi không có giấy tờ tùy thân. Mỗi lần về cứ với bà còn khó hơn trực tiếp tham gia một trận đánh. Đêm ngủ đình ngủ miễu để tránh vòng vây, gọng kìm của cảnh sát. Từ ngày nhận nhiệm vụ trông coi kho vũ khí, bà Chi đóng vai người buôn bán kiếm tiền nuôi con nhỏ. Lúc này bà vừa hạ sinh con trai Lê Văn Trung 2 tháng tuổi. Sau trận Mậu Thân 1968, căn nhà này là nơi lui tới của các cán bộ trong Đội biệt động Sài Gòn – Gia Định. Cơ sở do lực lượng biệt động mua để làm kho cất giấu vũ khí. Bà Chi đóng vai chủ nhà, từ chối không nhận tiền của đơn vị cấp mà tự buôn bán để kiếm sống. Theo bà, như thế sẽ khó lọt vào tầm ngắm của cảnh sát. Hàng ngày, bà bày ngay trước cửa nhà hàng bánh mì, xôi, bánh khọt… Suốt một thời gian dài, nhiều hầm vũ khí cũng như cơ sở nuôi giấu cách mạng ở trung tâm Sài Gòn đã bị lộ nhưng căn nhà do bà Chi làm “chủ” vẫn an toàn. Căn nhà này ngoài kho vũ khí còn là cơ sở nuôi giấu cách mạng, phục vụ đánh Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất).
Ngoài lực lượng biệt động thỉnh thoảng lui tới nắm bắt thông tin, thoắt ẩn thoắt hiện, ở chính trong căn nhà này là hai mẹ con bà Chi, bà Tư (chị em bạn dâu với bà Chi), bà Tư Giang và hai người cháu. Ở đông là vậy nhưng mỗi khi có cảnh sát đến khám xét nhà, bà Chi chỉ khai có hai mẹ con. Nhờ quan hệ tốt với xóm giềng nên thân phận “nghèo, gồng gánh mưu sinh nuôi con nhỏ” của bà cũng được bà con hết lòng chở che, bảo bọc. Bà Chi kể lại, hầm vũ khí này đặc biệt so với những hầm khác vào lúc đó. Khác là vì hầm vũ khí được xây nổi trên ban công. Ngoài buôn bán tại nhà, bà Chi còn giả dạng là người trồng rau, cắt rau bán để đi lại theo dõi và nắm bắt tình hình.
Chuyện “tù nhân không số”
Tháng 4-1971, bà Tư Giang bị chiêu hồi chỉ điểm bắt (sau này cảnh sát giải bà Tư về nhà mới biết). Trước đó, bà Tư đi đâu mấy ngày không tin tức gì. Tình hình Sài Gòn lúc ấy nhiều biến động. Linh tính của bà mách bảo có chuyện gì đó không hay, phải gấp rút ra khỏi nhà trong đêm nhưng chưa kịp chuẩn bị thì sự cố xảy ra. Hôm ấy là ngày thứ 4, kể từ ngày bà Tư Giang đi không về, đúng như dự đoán của bà Chi là cảnh sát sẽ giải bà Tư Giang về. Lúc đó bà Chi đang xay bột ở gần cầu Trương Minh Giảng để chuẩn bị cho ngày mai bán bánh khọt thì nhận được tin “cảnh sát đưa bà Tư Giang về”. Cảnh sát bắt tất cả những người có mặt trong nhà, kể cả đứa con trai 5 tuổi của bà. Cũng trong chiều hôm ấy, 40 gia đình trong khu vực cũng bị cảnh sát bắt. Tay chân bà rụng rời vì đứa con nhỏ dại lọt vào tay của những kẻ ác ôn. Song, bà cố bình tĩnh tự trấn an: “Chúng không dám làm hại một đứa trẻ. Mẹ nào không thương con. Chúng bắt thằng Trung là cái cớ để bắt mình”. Một ngày sau, người chị dâu nhắn về: “Tụi cảnh sát bảo chị về, sẽ thả cháu Trung”. Biết chắc chắn mình ra mặt chúng sẽ bắt ngay. Ở Sài Gòn, cảnh sát truy lùng bà ráo riết. Bà về Đồng Tháp lánh một thời gian.
Đến năm 1973, trong đợt trao trả tù binh bên dòng Thạch Hãn, Quảng Trị, có “tù nhân không số” Lê Văn Trung. Thấy thằng bé kháu khỉnh, lanh lợi ai nấy cũng giành là con của mình. Những người trong xóm đều biết rõ đứa bé 7 tuổi ấy là Lê Văn Trung, con của bà Chi nên đã quyết giành lại cho bằng được rồi trao cho chỉ huy. Đến giữa năm 1974, hai mẹ con mới gặp nhau, đứa bé ngơ ngác trước đám đông, không nhận ra mẹ. Nó không nhận ra bởi vì nỗi lo lắng và nhớ con đến quay quắt đã bào mòn sức khỏe của mẹ.
Bà Chi hiện ngụ tại số BB1, cư xá Bắc Hải, đường Trường Sơn, Q.10. “Tù nhân không số”, anh Lê Văn Trung hiện công tác trong ngành hải quan.
Bài, ảnh: Trần Tuy An
Kỳ cuối: “Địa chỉ đỏ” của cách mạng
Trong nhiều ngày đi tìm nhân chứng lịch sử cho loạt bài này, chúng tôi còn được những người con ưu tú của Biệt động Sài Gòn – Gia Định cung cấp các “địa chỉ đỏ” của cơ sở cách mạng. Ở các kỳ trước, chúng tôi đã đề cập đến những kho vũ khí, cơ sở nuôi giấu cách mạng do phụ nữ làm chủ hoặc được điều động trông coi. Góp phần mang lại chiến thắng lịch sử 30-4-1975 còn có những ông “chúa kho” như Trần Văn Miêng, Ngô Toại, Nguyễn Nông…


Bình luận (0)