Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Chuyện chưa kể về nhà thơ Kiên Giang: Kỳ 3: Người đa tình

Tạp Chí Giáo Dục

Nhà thơ Kiên Giang và người vợ Dương Thị Bạch Tuyết thời gian sống ở Q.8 (ảnh nhân vật cung cấp)

Ngoài mối tình thuở học trò dang dở trong Hoa trắng thôi cài lên áo tím vì tháng ngày loạn lạc, nhà thơ Kiên Giang còn có ba người vợ, trong đó có hai người đăng ký kết hôn là Nguyễn Thị Sương và Dương Thị Bạch Tuyết. Ngoài ra, còn có người vợ khác tên Mai Thị Thoa nhưng cuộc tình giữa hai người cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn.
Tình thời áo trắng – hoa tím
Thuở học ở Trường tư thục Nam Hưng, Cần Thơ, năm lớp đệ nhị (lớp 11 bây giờ) Trương Khương Trinh được các thầy Tám X, Lê Nguyên Thiệp, Lý Bình Kiệt… giao nhiệm vụ thực hiện tờ báo của trường. Nói là báo nhưng thực ra chỉ trình bày trên một cuốn tập học trò. Nhờ năng khiếu vẽ, Trinh đảm nhận việc vẽ minh họa trên mỗi trang. Cùng thực hiện tờ báo Ngày Xanh lúc đó có cô bạn học trò tên Nguyễn Thị Nhiều. Nhiều có nét chữ đẹp nên được chọn viết những bài báo ấy vô tập. Theo nhà thơ Kiên Giang, tờ Ngày Xanh lúc đó được xem là kênh thông tin, giao lưu với Trường Trung học Ba Sắc cũng thuộc Cần Thơ. Vào mỗi cuối tuần, Kiên Giang và cô Nhiều lại gặp nhau dưới tán cây sân trường để cùng thực hiện tờ báo.
Cô Nhiều là con thứ 8 trong gia đình, sau Nhiều còn một người em gái. Nhà thơ Kiên Giang hồi tưởng: “Nhiều đẹp, mái tóc xõa ngang vai, nói năng dịu dàng, có duyên. Thời đó tôi nhát lắm, để ý Nhiều nhưng không dám nói một câu. Kể cả trong những câu thơ viết vội tặng Nhiều để “thay lời muốn nói” nhưng cũng chỉ lấp lửng, nửa chừng”. Gia đình của Nhiều theo đạo Thiên chúa, cuối tuần thường đi lễ nhà thờ.  Nhiều vào bên trong giáo đường cùng lúc cậu học trò Khương Trinh có mặt trước cổng nhà thờ để đợi nàng ra rồi cùng đi về. Bấy nhiêu đó cũng đủ cho con tim vui, rạo rực. Tuần nào cũng vậy, dù không nói với nhau một câu nào về chuyện tình cảm nhưng cả hai đều hiểu trái tim mình đã rung động vì nhau. “Tôi nhát và khờ lắm. Nhiều thì cứ e ấp thẹn thùng làm duyên mỗi lần tôi liếc nhìn (không dám nhìn thẳng – PV)”, nhà thơ Kiên Giang nhớ lại. Năm 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra, việc học bị gián đoạn. Ông tham gia kháng chiến. Hành trang ông mang theo vào khu 8 là hình bóng nàng, kỷ niệm và cả những lời chưa kịp gửi trao. Từ đó họ bặt tin nhau. Cũng trong thời gian này, ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Sương.
Nhắc lại chuyện xưa, trong ông vẫn còn day dứt: “Về sau mới biết những tháng ngày tôi đi kháng chiến, Nhiều vẫn âm thầm chờ tin tôi. 9 năm kháng chiến chống Pháp kết thúc, nàng quyết gặp tôi lần cuối rồi mới đi lấy chồng”. Năm 1977, ông và bà có dịp gặp nhau sau hơn 30 năm xa cách. Cả hai dù phải cố kiềm chế cảm xúc nhưng kỷ niệm thuở thơ thơ thẩn thẩn bên giáo đường, những cái liếc nhìn e thẹn… cứ ùa về khi mái tóc đã nhuốm màu thời gian. “Năm ấy tôi đưa đoàn về Cần Thơ diễn có ghé thăm nàng và tặng hai vợ chồng một cặp vé xem cải lương nhưng đợi mãi không thấy nàng tới. Tôi cố tình đặt lời thơ nàng phải chết, không còn hiện diện trên cõi đời này để mặc nhiên nàng là của tôi”. Bài thơ Hoa trắng thôi cài lên áo tím được Kiên Giang viết vào năm 1958 tại Bến Tre. Nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ thành bài hát cùng tên đã chiếm tình cảm của người yêu nhạc lẫn thơ. Những năm sau đó, hay tin bà đau nặng ông thường về thăm. Bà qua đời năm 1998 vì bệnh tật. Lúc này mới thật sự: Ba năm sau, chiếc xe hoa cũ/ Chở áo tím về giữa áo quan/ Chuông đạo ngân vang hồi tiễn biệt/ Khi anh ngồi kết vòng hoa tang”.
Vẹn nguyên những mối tình
Nhà thơ Kiên Giang tiếp: “Sau khi gặp lại Nhiều, về tôi có sửa lại đoạn cuối của bài thơ. Tôi muốn người con trai trong bài thơ phải chết vì quê hương, để không còn vương mối tình đẹp lãng mạn tuổi học trò. Cũng có người thích ý thơ sau khi sửa nhưng đa phần vẫn muốn giữ nguyên tác là người con gái phải chết để mối tình nguyên vẹn kia là của tác giả”. Ngày bà Nhiều mất, con gái của bà đã báo tin cho Kiên Giang nhưng vì cuộc sống lang bạt kỳ hồ, ông không nhận được. Những người biết về mối tình của ông với Nhiều thuở ấy có hay tin nhưng không biết liên lạc với Kiên Giang thế nào.
Nhà thơ Kiên Giang còn có một người vợ khác tên Dương Thị Bạch Tuyết, thường gọi là Cẩm Vân. Lớn lên, bà chỉ nghe người ta nói lại cha bà là người Úc, còn mẹ là người miền Bắc, không hề biết mặt mũi cha mẹ. Vừa lọt lòng, cha mẹ đã đem bà cho một gia đình người Tàu hiếm muộn con. Khi nhận bà về nuôi, gia đình này sinh được nhiều mụn con. Khác với những tháng ngày bà trở thành thành viên của gia đình, bà lớn lên trong tủi nhục vì bị bỏ rơi. Bà đẹp người đẹp nết, nói chuyện không hay nhưng ngược lại bà có giọng ngâm thơ trời phú. Nhiều người đeo đuổi nhưng bà không ưng. Trước khi về chung sống, bà đã có một đời chồng là võ sĩ. Cái duyên, cái số đã đưa bà đến cuộc hôn nhân đầy bất hạnh. Con riêng của người chồng không tôn trọng bà, đêm lại không cho bà ngủ trong nhà mà tá túc ngoài chái bếp. Thương cảnh bà bị chồng nhẫn tâm ra tay đánh đập, con cái của chồng hất hủi phải ra khỏi nhà, ông tình nguyện làm người đưa đón, bảo vệ bà. Từ đó hai người về “góp gạo nấu cơm chung” và có với nhau một người con gái nay đã 24 tuổi. Bà Tuyết hiện vẫn còn sống ở Q.8 nhưng thường xuyên đau yếu.
Ngoài hai người vợ có hôn thú trên, nhà thơ Kiên Giang còn có người vợ khác tên Mai Thị Thoa. Tuy nhiên cuộc tình giữa hai người cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn. Bà Thoa là thợ may, nổi tiếng may đẹp, đặc biệt là áo bà ba. Chỉ hai câu thơ: Yêu nghề trau chuốt hoa tay/ Khéo đo, khéo cắt, khéo may, khéo chiều” mà ông đã có bà.
Bài, ảnh: Trần Tuy An
Kỳ cuối: Mẹ và “người dưng”
Sở dĩ người viết đặt tựa cho bài cuối về nhà thơ Kiên Giang là Mẹ và “người dưng” là vì ở không gian, thời gian nào và người đối diện là ai thì ông cũng luôn nhắc đến mẹ và “người dưng”… 

Bình luận (0)