|
Hạnh phúc vẹn tròn của hai người thương binh hạng nặng |
“5 năm trời đằng đẵng bị đày ải trong trại giam tù binh Phú Tài (Qui Nhơn), bằng một cánh tay trái còn lại, bà đã nghĩ ra cách dạy chữ cho chị em trong trại tù, tổ chức nhiều tuần lễ sinh hoạt đấu tranh với kẻ thù ngay trong chính vòng vây của chúng, xứng đáng đứng vào hàng ngũ của Đảng khi mới 18 tuổi”, bà Sáu Mai, nguyên Bí thư Đảng ủy Bất Khuất (tổ chức được thành lập trong lòng địch) nói về nữ tù chính trị Nguyễn Thị Vân Toàn – một đảng viên do chính bà kết nạp ở trại tù Phú Tài.
Tôi tình cờ gặp bà vào những ngày kỉ niệm gặp mặt 40 năm các chiến sĩ cách mạng bị địch bắt chiến thắng trở về. Hạnh phúc, mừng tủi trong ngày gặp mặt đồng đội, người còn người mất, cựu tù chính trị Nguyễn Thị Vân Toàn (62 tuổi) rưng rưng xúc động: “Mới đó đã 40 năm. Cuộc gặp này tui như cảm thấy những đồng đội ngã xuống cùng về chung vui”.
Từ hai lần nhận án tử
40 năm – 2/3 đời người bà sống chung với một cánh tay phải bị địch chặt đứt lìa. Mọi sinh hoạt đều nhờ vào cánh tay trái còn lại, từ việc ẵm con, thồ cả trăm cân hàng trên chiếc xe đạp cũ cọc cạch, giặt giũ, nấu nướng… Điều làm không ít người ngỡ ngàng là cuộc gặp mặt ngày hôm ấy đi cùng bà còn có ông Nguyễn Văn Hiện – đồng đội chiến đấu cũng là chồng bà. Câu chuyện về hai người lính – hai cựu tù được tái hiện qua kí ức rưng rưng như cuốn phim quay chậm.
Sau 1973, bà Toàn được đưa ra dưỡng thương ở Trung tâm Thương binh Đồ Sơn (Hải Phòng) với một cánh tay còn lại và sức khỏe yếu trầm trọng. Ở vào tuổi xuân xanh của đời người con gái bà không dám nghĩ đến hạnh phúc riêng tư. Hễ ai nhắc đến, bà lại lắc đầu: “Tui là thương binh đặc biệt, lấy chồng chỉ tội đem cái khổ đến cho người ta”. Bà không ngờ, hàng ngày lúc bà lặng lẽ tập múc nước giếng, mỗi vòng dây cứa vào cùi tay cụt, đôi môi mím chặt bật máu hay lúc nỗi khát khao làm mẹ trỗi dậy, bà ngồi ôm cái gối đưa qua đưa lại khó nhọc… đều có ánh mắt dõi theo của một người chiến sĩ cùng quê, đang dưỡng thương cùng trung tâm. “Khâm phục ý chí của bà ấy, tui ngỏ lời rồi đồng đội vun vào mà bà ấy vẫn lắc đầu. Hôm sau tui trở lại chiến trường, khi được hỏi nguyện vọng tui liền báo cáo luôn với thủ trưởng là tui gửi cô ấy lại sau này nếu còn sống nhất định tui sẽ cưới cô ấy”, ông Hiện – chồng bà Toàn kể lại. Bẽn lẽn bên chồng, bà Toàn bảo: “Lúc đó tui bối rối lắm, không biết tính răng nên cứ gật đầu cho ông ấy yên tâm chiến đấu”. Rồi hòa bình, ông Hiện trở về thật. Một đám cưới nhỏ được tổ chức, hai người thương binh nặng tựa vào nhau xây dựng cuộc sống. Bốn đứa con lần lượt chào đời trong hạnh phúc của hai vợ chồng – hai người đồng chí!
Hỏi ông Hiện vì sao lại nhất quyết chọn bà, ông cười bảo: “Vì tui khâm phục nghị lực của bà ấy. Nói không tin, hai lần đối mặt án tử hình mà bà ấy vẫn sống, hiên ngang hoạt động. Ở bà hầu như chưa bao giờ gợn nỗi buồn hay tuyệt vọng trên gương mặt. Đáng yêu lắm!”. Ông kể, bà sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng ở xã Hải Tân (Hải Lăng, Quảng Trị). Mới 14 tuổi, cô bé Nguyễn Thị Vân Toàn đã hăng hái tham gia Ban Chấp hành Xã đoàn.
Những năm 1966-1967, với chiến dịch mang tên “tát nước, bắt cá”, vùng Bình Trị Thiên liên tục bị địch tăng cường đàn áp đẫm máu nhằm khủng bố tinh thần cách mạng. Một lần địch càn về xã Hải Tân, hầm bí mật của bà cùng đồng đội là Trần Thị Lệ Hoa bị phát hiện. Dũng cảm bật nắp hầm tung lựu đạn về phía địch nhưng lực lượng địch đông lại được trang bị đầy đủ súng ống hiện đại. Bà và đồng đội bị bắt sống. Hai người thiếu nữ vừa ở độ tuổi trăng tròn kiên định trước mọi đòn roi tra tấn của kẻ thù. Chúng trói quặt tay hai người vào chiếc cối đạp giã gạo để trước sân đình rồi dùng mọi thủ đoạn từ nước ớt, xà phòng, roi điện cho đến dụ dỗ, khảo tra nhằm moi thông tin nhưng cuối cùng chúng chỉ nhận được cái lắc đầu.
Cái án tử hình lần thứ nhất được tuyên chưa ráo mực, tên chỉ huy lại ra lệnh: “Bọn hắn chỉ là đứa con gái mặt búng ra sữa, tra khảo thêm vài trận nữa kiểu gì cũng phải khai, lúc đó tử hình chưa muộn”. Lại tiếp tục những trận đòn thù sống không bằng chết. Ngất đi tỉnh lại. Đêm cũng như ngày, trước mắt chỉ toàn một màu mây trắng lờ mờ. Đói. Khát. Nhưng tuyệt nhiên không hé răng khai nửa lời. Cuộc đấu trí đi đến hồi kết với lệnh tử hình lần hai được công bố khắp hệ thống loa truyền thanh từ đầu làng đến cuối xã. Đêm, gió từ đồng ruộng mang hơi lạnh se se thổi vào mặt. Mấy tên lính gác ôm súng ngủ gục. Bà và đồng đội tỉnh giấc sau trận đòn mê man. Chỉ đợi trời sáng… bà Toàn rùng mình chợt nghĩ… Bất chợt vùng sáng lờ mờ của ánh trăng hắt qua tán lá soi rõ chùm lựu đạn M26 bóng loáng lủng lẳng nơi thắt lưng tên lính gác. Bà nhanh chóng nhìn đồng đội. Họ gồng mình, chịu từng cơn đau thắt của chiếc dây siết chặt hai tay, nhích từng tí một, xoãi chân rút chốt lựu đạn. Một tiếng nổ đanh vang lên xé toạc màn đêm… Hai ngày sau tỉnh dậy, bà thấy mình đang nằm trong Bệnh viện Ái Tử (huyện Triệu Phong). Cánh tay phải đứt gãy lơ lửng được băng bó sơ sài. Người đồng đội của bà – du kích Trần Thị Lệ Hoa hy sinh tại chỗ. Cú nổ của quả lựu đạn làm chục tên địch thương vong. Chưa tìm ra nguyên nhân vụ nổ, chúng tiếp tục tra khảo, chặt đứt luôn cánh tay của bà, đưa bà vào nhà giam Phú Tài. Hai lần tuyên án tử, bà vẫn tiếp tục sống!
Đến dạy chữ trong lòng địch
Vào trại tù với một cánh tay còn lại, bà được những tù binh theo cách mạng tin cậy bầu làm Đội trưởng Đội văn nghệ đấu tranh chống chào cờ ba que, chống đúc bê tông xây lô cốt, chống ngược đãi tù nhân, đòi quyền được thêu may… “Thời đó vì hoàn cảnh nên nhiều chị em không biết mặt chữ. Muốn hoạt động hiệu quả thì việc biết chữ có vai trò quan trọng nên tui bàn với chị em học chữ. Tui được học qua trường lớp nên được bầu làm giáo viên đứng lớp”, bà Toàn kể.
Một lớp học chữ được mở bằng tấm ván mỏng bọn lính vứt bên tường rào cùng ít mỡ chúng thải đem trộn với nhọ nồi. Hai thứ ấy trộn với nhau trát lên tấm ván, rồi dùng tấm nilon mỏng dán lên và lấy que vạch chữ, số lên đó. Mỗi lần tấm nilon được lấy đi, hình thù chữ số in lên lớp mỡ nhọ nồi. Người giáo viên mất tay phải, những nét chữ cố nắn nót dưới bàn tay trái chưa quen cầm bút cứ xiêu vẹo. Lớp học có người canh chừng, đồ dùng học xong được đào chôn sâu dưới cát. Có bữa bọn chúng canh ngặt quá, các bà các chị đứng vòng quanh, bà Toàn ngồi bệt dưới đất, lấy tay xoa bằng mặt cát rồi viết chữ lên. Cứ thế, 5 năm trời lớp học được mở bí mật, nhiều người đọc thông, viết thạo và biết làm cả phép tính. Bà ngẫu nhiên được các bạn tù gọi bằng cái tên thân mật: Cô giáo Toàn. Năm 1973, bà vinh dự được kết nạp Đảng tại nhà lao.
Ở trại giam vô cùng gian khổ. Mọi hoạt động đều phải canh chừng địch phát hiện. Thiếu thốn đủ bề. Một hạt muối chia 10 mới có thể cầm cự qua ngày tháng, những tuần lễ đấu tranh bị địch quây trong vòng kẽm gai đói và khát. “Lúc đó áo quần chủ yếu là giặt nắng. Bên trong vòng kẽm gai bọn chúng quây chị em lại giữa nắng. Cái nắng đất Qui Nhơn rát khô cổ họng. Những giọt nước tiểu được chắt chiu dành cho những người kiệt sức. Số còn lại chỉ có tinh thần để đấu tranh với địch và cả đấu tranh với sự sống mỗi giờ, mỗi phút. Sau những tuần biểu tình đấu tranh, chúng lại dùng cực hình, thậm chí cả nhục hình để tra tấn”, bà Toàn rùng mình nhớ lại.
Trở về với đời thường, mỗi ngày bà vẫn cầm bút bằng tay trái ghi chép, tính toán chi tiêu của cuộc sống và bày cho con cháu học hành. Bà bảo, cuộc sống sau hòa bình đã no đủ và yên ấm hơn vạn lần, nhưng hạnh phúc nhất của đời bà là thi thoảng gặp lại đồng đội ôm chầm lấy bà gọi mình bằng cô giáo!
Bài, ảnh: Hàn Giang


Bình luận (0)