|
Ông Hồ Văn Xang đang xem lại những tư liệu của chiến dịch giải phóng Khe Sanh. Ảnh: Vĩnh Yên
|
Đó chính là ông Hồ Văn Xang, 69 tuổi, ở khóm 6, thị trấn Khe Sanh (Hướng Hóa, Quảng Trị) – một trong những người từng đi dọc hành trình chiến dịch giải phóng Khe Sanh.
Hồi ức những ngày đánh Mỹ
Ông Lê Văn Hói, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Hướng Hóa nói với chúng tôi rằng, gặp và nghe chuyện về cuộc đời chiến đấu của cựu chiến binh Hồ Văn Xang là có thể khái quát được gần như trọn vẹn một chiến dịch giải phóng Khe Sanh vang dội thời đánh Mỹ. Ở vào tuổi 69, hàng ngày ông Xang vẫn lên rẫy cuốc đất trồng lúa, chăm sóc tre lấy măng. Ông bảo, bây giờ hết chiến tranh rồi, bên cạnh việc phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho các cháu học hành, còn phải có trách nhiệm với đồng đội, phải phủ xanh những khoảnh rừng bị cày xới loang lổ, dày đặc hố bom để tạo nên màu xanh sự sống. Đó chính là lý do nhiều năm nay ông xuôi bản, ngược rừng vừa cặm cụi làm ăn vừa động viên bà con dân bản bảo vệ rừng, cho con cái tới trường học chữ.
Theo cách mạng làm liên lạc từ năm mới 13 tuổi. Bước chân ông từng in dấu khắp các vùng rừng Đakrông, Hướng Hóa để đưa tin cho bộ đội. Năm 18 tuổi, Hồ Văn Xang trở thành bộ đội địa phương Hướng Hóa. Nhắc đến chiến thắng Khe Sanh, kí ức Hồ Văn Xang luôn vang tiếng súng đì đùng, tiếng đạn sượt qua tai cháy xém cả tóc, tiếng B52 quần lượn trên ngọn cây bạt cả tán lá, xé toạc cả vai áo chỉ trong một tích tắc không kịp tránh. “Hồi đó, bố có mặt ở hầu hết các cứ điểm chủ chốt như đồi Không Tên, đồi 500, đồi Động Tri cho đến Làng Vây, Sân bay Tà Cơn”. Nói rồi ông hăng hái dẫn chúng tôi trở lại Làng Vây. Theo hướng tay chỉ của ông, hồi ức về đồi Động Tri, đồi 500 cứ hiện dần lên qua từng cử chỉ của những cái vung tay, của ánh mắt lâu lâu lại rực sáng khi kể về một trận đánh giáp lá cà khiến kẻ thù thất kinh hồn vía. Những năm 1967, 1968, tướng Mỹ Oét-mô-len điều động một số lượng rất lớn quân tinh nhuệ đóng chốt ở Khe Sanh, nhằm phong tỏa biên giới Việt – Lào, cô lập hai miền Nam – Bắc. Lúc bấy giờ, Mỹ, ngụy đóng ở 3 cụm cứ điểm chính, gồm: Làng Vây, Khe Sanh và Sân bay Tà Cơn. Cùng với vũ khí tối tân, chốt giữ tại hàng trăm cứ điểm bao quanh Hướng Hóa, nhằm tạo nên hàng rào phòng thủ bất khả xâm phạm. Trong đó, cứ điểm đồi 500, đồi Động Tri là điểm bảo vệ trực tiếp Sân bay Tà Cơn đồng thời ở trên các điểm cao này, địch dễ dàng quan sát để kiểm soát các cứ điểm khác trên toàn địa bàn.
“Địch bố trí về Khe Sanh một tổng lực hùng mạnh như vậy đấy. Chúng có vũ khí tối tân thì ta chiến đấu bằng tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Quân và dân mình thực hiện cuộc tiến công bằng những tay súng dũng cảm bắn máy bay, bao vây bắn tỉa, chặn đánh giao thông với chiến thuật lúc ẩn, lúc hiện khiến địch thất điên bát đảo, thiệt hại nặng nề. Thời điểm khoảng tháng 2-1968, ta đánh chiếm được nhiều cứ điểm khiến địch co cụm tại Sân bay Tà Cơn, mặt đất lúc đó nham nhở hố bom, không còn một gốc cây, bụi cỏ”, ông Xang nhớ lại. “Chiến tranh ác liệt, động lực nào thôi thúc bố đi qua cuộc chiến như một phép mầu?”, chúng tôi hỏi, ông cười hiền: “Thời bố cầm súng đánh giặc để giành tự do, độc lập. Với bố, cuộc chiến ấy còn mang một ý nghĩa khác đó là đánh thắng Mỹ để được gặp Bác Hồ. Hình ảnh Bác Hồ luôn hiện hữu như động lực thôi thúc bố tiến lên phía trước. Và dường như, với niềm tin ấy bố đi qua mọi lằn ranh giữa cái chết và sự sống một cách nhẹ nhàng cho đến ngày chiến thắng. Bom đạn nó chừa bố ra!”.
Cuộc chiến chống “giặc dốt”
45 năm sau ngày Khe Sanh giải phóng, những người lính từng xông pha lửa đạn năm xưa giờ phần lớn đã khuất bóng núi, Hồ Văn Xang bây giờ là một trong số rất ít từng tham gia bộ đội địa phương trong cuộc tiến công giải phóng Khe Sanh – Hướng Hóa còn sống đến tận bây giờ. Hòa bình, ông chọn mảnh đất cheo leo bên bờ suối, ngay thị trấn Khe Sanh – nơi có nhiều kỉ niệm gắn bó máu thịt những năm tháng chinh chiến để sinh sống. Ngôi nhà kiên cố được xây dựng bằng nỗ lực vượt khó của người lính sau hơn 5 năm mới hoàn thành. Trong ngôi nhà ấy, ông dành nơi trang trọng nhất đặt một chiếc tủ gỗ cũ cất giữ những kỉ vật chiến tranh. “Mấy năm trước bố tiếp rất nhiều đoàn cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Khe Sanh, có cả đài báo nước ngoài đến thăm bố. Bố đã dẫn họ đi khắp Khe Sanh. Đến đâu người ta cũng ngạc nhiên về sự hồi sinh nhanh chóng của mảnh đất này. Người ta hỏi sức mạnh nào để chiến thắng, bố nói đó chính là niềm tin của người lính Cụ Hồ”.
Sau chiến thắng Khe Sanh, ông tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng. Đến năm 1985, ông nghỉ hưu với cấp bậc Đại úy, Phó tham mưu trưởng Huyện đội Hướng Hóa. Dẫu tuổi cao, sức yếu, vết thương chiến tranh hành hạ liên tục mỗi lúc trái gió trở trời nhưng ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội từ huyện, xã cho đến thôn. Ông nghĩ: “Muốn nâng cao đời sống không còn cách nào khác phải làm cho kinh tế của mình khấm khá”. Rồi ông bắt tay vào làm giàu từ việc trồng tre măng, trồng cây lúa nước, chăn nuôi gia súc… Hơn 10 năm quần quật với nương rẫy, hai vợ chồng cũng thu được thành quả. Từ đó, ông bắt đầu tham gia giúp đỡ người nghèo, trẻ em khuyết tật do di chứng chất độc da cam; động viên và hỗ trợ các em tới trường.
Vĩnh Yên – Thiên Phúc
|
Câu cửa miệng của ông Xang mỗi lần nhắc các con học hành là: “Thời bố cầm súng đuổi giặc xong rồi, thời các con phải cầm bút để xây dựng quê hương giàu mạnh. Chỉ có cái chữ mới mang lại sự đổi thay toàn diện và bền vững”.
|
Kỳ 3: Tiếng hát át tiếng bom


Bình luận (0)