|
Nghệ nhân Ngô Thị Huế kể lại thuở đưa đò, hò Như Lệ trên bến Đá Đứng lịch sử
|
Bến Đá Đứng – cửa ngõ quan trọng nằm về phía đông rặng núi Trấm, bên kia là chiến khu Ba Lòng. Tạo hóa vô tình hay cố ý đã tạo ra một khúc ngoặt dựng đứng trên dòng Thạch Hãn để chở che cho những chuyến đò đưa bộ đội ngược lên Ba Lòng khỏi các trận mưa bom bão đạn của quân thù…
Trong lòng người dân thôn Như Lệ – cái nôi cách mạng (đoạn có khúc sông này chảy qua) – bến Đá Đứng còn được ví như “con rồng” nằm ngang dòng Thạch Hãn góp phần làm nên chiến thắng, cung cấp nguồn thực phẩm nuôi sống nhân dân.
Dòng sông mặn mồ hôi của đá
Dẫn tôi ra một vùng cây cối xanh mát bởi được tưới tắm từ nguồn nước sông Thạch Hãn, ông Đinh Ngọc Pháp, Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã, Trưởng thôn Như Lệ (xã Hải Lệ, thị xã Quảng Trị) nói rằng, nhờ có bến Đá Đứng này mà bao nhiêu chuyến đò chở bộ đội vượt sông, ngược lên vùng chiến khu được an toàn. Chảy khỏi rặng núi Trấm về đến Như Lệ, bao nhiêu phù sa đều bồi đắp cho làng Thượng Phước của đất Triệu Thượng (huyện Triệu Phong) phía bên kia bờ. Như Lệ nhận về mình cái thiệt thòi bên lở. “Những năm 1967-1968, đây là vùng địch tạm chiếm, chúng ra sức dồn dân lập ấp, kiểm soát gắt gao hòng đánh bật ta ra khỏi bờ Bắc sông Thạch Hãn. Những năm tháng đó, Như Lệ trở thành cái nôi cách mạng, từng che giấu cán bộ trong chiến tranh ác liệt. Cán bộ, bộ đội ta từ Bắc vào đều vượt bến Đá Đứng vào đây. Đặc biệt, trận tái chiếm Thành Cổ năm 1972, mảnh đất này từng là bàn đạp tấn công của ta đánh bật nhiều cuộc đọ sức giữa ta và địch. Mảnh đất nhỏ bé này từng ghi dấu nhiều trận đánh ác liệt như Đồi Chè, Đồi Cháy, Đồi Tranh…”, ông Pháp cho biết. Ngược dòng lịch sử, mảnh đất bờ Nam sông này từng là chốn dừng chân của đoàn quân Tây Sơn. Những người lính cờ đào, áo vải rồi hàng ngàn chiến sĩ trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc đã nằm lại chốn này. Theo chiều thiên di của lịch sử, chứng kiến bao thăng trầm, che chở cho bao người con giàu nghĩa khí yêu nước, không chỉ đời người mà đời đá trên con sông này cũng mặn chát mồ hôi. Ông Đinh Ngọc Pháp trầm ngâm dõi mắt ra dòng sông Thạch Hãn đang lững lờ trôi xuôi.
Giọng hò đi cùng năm tháng
Nhắc đến Như Lệ là nói đến giọng hò độc nhất vô nhị của dải đất miền Trung. Kì lạ hơn, nó lại được phôi thai và ra đời ngay trên dòng Thạch Hãn đoạn qua bến Đá Đứng của thôn Như Lệ. Đây là một điệu hò hay nhất trong 40 điệu hò của xứ Bình – Trị – Thiên. Những năm kháng chiến trường kì, việc đánh giặc không chỉ là việc cầm súng, mà đánh đuổi giặc phải dựa trên tất cả các mặt trận chính trị, ngoại giao… Những người dân trên bến sông này quen cầm mái chèo, buông mảnh lưới bị chèn ép, mỗi ngày đối mặt với hàng chục cuộc càn quét, giết người dã man của giặc, họ đứng lên đấu tranh giành độc lập. Điệu hò đò dọc được biến tấu sắc thái thành thứ vũ khí đấu tranh. “Ngày đó, thằng giặc Pháp giày xéo dân mình, nhiều người vô tội chết oan ức. Người Như Lệ không có súng ống lấy giọng hò để đấu tranh với chúng. Từ ngày còn nhỏ, mẹ tui thường hay chèo đò ngang bến Đá Đứng buôn cá cùng với bà con trong thôn, hễ bộ đội tới là bà bỏ buôn bán để đưa đón các anh. Sau này chiến tranh ác liệt, nhiều chiến sĩ bị địch bắt giam, dân mình mang điệu hò đến tận trại giam để đấu tranh đòi thả anh em ra. Không những thế, điệu hò này còn dùng để vận động anh em bị bắt đi lính ngụy quay về với cách mạng”, bà Ngô Thị Huế (75 tuổi), một nghệ nhân hò Như Lệ nhớ lại. Với bà, điệu hò này gắn bó cả cuộc đời không chỉ bởi là thứ tinh thần làm vơi nhọc nhằn cam khổ khi lao động, cũng không chỉ là thứ vũ khí đấu tranh đi cùng bà suốt hàng chục năm đánh Mỹ thuở còn tuổi xuân xanh. Điệu hò Như Lệ còn khắc sâu vào kí ức của bà với kỉ niệm về trận đấu tranh giành xác của chồng với địch. “Năm 1968, ông nhà tui là bộ đội bị địch bắn. Chúng kéo lê xác ông đi khắp làng rồi phơi nắng ngày này qua ngày khác. Không thể đưa xác chồng về an táng, tui đội nắng mang giọng hò này để đòi chúng trả xác chồng”, bà Huế kể lại.
Bà Nguyễn Thị Thời (76 tuổi), một trong hai nghệ nhân hò còn lại của làng Như Lệ, tự hào: “Hò đò dọc mang sắc thái man mác, buồn. Sau này chúng tôi biến tấu thành những làn điệu mạnh mẽ khi đấu tranh. Hồi đó, đội hát địch vận có 3 người chính: Chị Ngô Thị Gái, Ngô Thị Khuyến và Phạm Thị Kính. Ban ngày lao động, ban đêm họ họp nhau tại một căn hầm bí mật gần bốt chiếm đóng của địch, hướng loa về phía bốt và hát. Binh lính bên trong bốt cứ im lặng lắng nghe không hề chống trả. Những lần như vậy, chắc chắn sáng mai ra sẽ có người bỏ trốn, về với cách mạng. Sau 3 chị ấy, lớp chúng tôi kế tiếp”. Mỗi người đều có cách lưu giữ kí ức thời đã qua của riêng mình. Nhiều nghệ nhân hò Như Lệ như bà Thời, bà Huế lại chọn cách ghi chép lại các bài hò ấy và cả sáng tác bài mới vào những cuốn vở học trò. Nét chữ vừa qua lớp bình dân học vụ xiêu vẹo không đứng vững hàng lối nhưng chứa đựng cả niềm tự hào của những con người một thời bất chấp cái chết đấu tranh cho hòa bình.
Ráng chiều hắt xuống mặt sông, con thuyền được người cầm lái tắt máy, lặng lờ trôi xuôi theo dòng nước một quãng xa vẫn nghe vang vang điệu hò của bà Huế: “Ai về Như Lệ quê tôi/ Dừng chân ngắm cảnh đất trời đổi thay…”. Phù sa Thạch Hãn bồi cho làng Như Lệ bến Đá Đứng để từ đó hình thành nên điệu hò Như Lệ nổi tiếng.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
Kỳ 3: Thị xã bên dòng sông


Bình luận (0)