|
Nhà tình báo Tư Cang hiện nay
|
Ngày 30-4 lịch sử, giữa dòng người và hoa xuống đường mừng chiến thắng, tình báo Tư Cang tự lái chiếc Jeep vừa tước đoạt của tên trung tá ngụy về Thị Nghè tìm vợ sau 29 năm xa cách.
Tôi không thể nhớ nổi trong những ngày gặp ông để nghe kể về cuộc đời tình báo, ông đã lặp đi lặp lại bao nhiêu lần câu: “Đời chinh chiến mà…”. Cứ ngỡ vì cái tuổi 85 làm người ta nhớ nhớ quên quên nhưng không, ông nhắc lại nhiều lần là có chủ đích. Đời chinh chiến – ông gạt bỏ chuyện gia đình sang một bên, dành quá nửa đời người lăn lộn trên chiến trường, ra vào vùng địch, đối mặt trước cái chết nhưng vẫn hiên ngang.
Vì lưới tình báo
Tình báo Tư Cang lập gia đình vào năm 1946, lúc đó ông vừa tròn 18 tuổi. Vợ ông tên Trần Ngọc Ảnh, người ở làng biển Phước Hải, huyện Đất Đỏ cách làng Long Phước quê ông 15km. Bà là nữ sinh Trường Gia Long (nay là THPT Nguyễn Thị Minh Khai, nơi ông từng học) nhưng vì chiến tranh loạn lạc, học đến hết năm thứ 2 trung học là về quê. Ông kể đến đây, tôi hỏi: “Vậy có phải lúc cùng học ở Gia Long, ông “cua” bà không?”. Ông cười một tràng dài, sảng khoái rồi giãi bày: “Đâu có, hồi ấy người lớn hai bên gặp nhau rồi hứa gả”.
Bà Ảnh về làm dâu nhà chồng ở tuổi 17. Gia đình chồng nghèo. Ông ngoại già, ba mẹ chồng thì đau yếu, cộng với 4 đứa em nhỏ. Lúc bấy giờ, ông Tư Cang là trụ cột của gia đình. Ông làm đủ thứ việc, từ bồi bàn quán cà phê, bán vải dạo, bán cá… Tuy nhiên, công việc thường xuyên của ông là mua heo về mổ rồi gánh thịt đi bán dạo khắp làng. Làng trên, xóm dưới ai kêu bán heo ông mang đồ nghề tới, con nào nhỏ là một mình ông trói chân, vác chạy một mạch về nhà như không. Bà Ảnh chịu thương chịu khó, không nề hà gian khổ. Lúc ông Tư Cang mua con heo lớn quá, bà Ảnh cũng ra tay phụ khiêng, khỏi phải tốn tiền thuê người. Thời gian sau, ông còn nhận quay heo cho đám tiệc. Thấy ông vất vả làm lụng sớm hôm để nuôi gia đình 8 miệng ăn, người lớn lại thường xuyên đau yếu nên nhiều người khuyên ông làm thông ngôn cho Pháp nhưng ông một mực từ chối vì “không thể làm mọi cho Tây”. Trong đầu ông luôn nuôi ý nghĩ: “Cực nhọc mấy cũng cố gắng làm nuôi em, thuốc thang cho mẹ rồi sau này sẽ vào chiến khu đánh Pháp”.
Năm 1947, ông vào lực lượng Quân báo của tỉnh Bà Rịa – Chợ Lớn vừa làm nhân viên mật vừa buôn bán kiếm tiền nuôi mẹ và em. Làng Long Phước quê ông bị giặc Pháp càn quét ngày đêm, bà Ảnh đang mang thai nên ông gửi về nhà mẹ vợ ở Phước Hải. Ở đó cũng chẳng yên, gia đình bà dắt díu nhau lên Sài Gòn sinh sống. Ở Sài Gòn, bà theo học nghề đánh máy chữ rồi sinh con vào tháng 3-1947. Thời gian này, vì các em còn nhỏ, ông Tư Cang phải ở lại chăm sóc mẹ và em. Đến năm 1949, mẹ ông đỡ bệnh, ông mới yên tâm thoát ly theo kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, ông lại trải qua 21 năm trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Từ chiến trường Bà Rịa đến chiến khu Rừng Sác, rồi mất 7 năm tập kết ra Bắc. Năm 1961, ông vượt Trường Sơn đúng 100 ngày trở về Nam. Những tưởng sẽ có phút giây sum họp gia đình, nhìn mặt con nhưng vừa đến Biên Hòa lại nhận nhiệm vụ mới. Đặc thù công việc của một tình báo, ông cũng không thể về thăm vợ con. Nhớ vợ, nhớ con nhưng vì nhiệm vụ bảo vệ lưới tình báo, ông đành tạm gác chuyện gia đình. Lúc nhớ quay quắt, ông lại tự nhủ: “Hòa bình rồi ta lại gặp nhau. Gia đình mình sẽ sum họp”.
Năm ấy, ông Mười Hương (tức Trần Quốc Hương, người thầy của nhiều nhà tình báo như Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ…) bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt tại Huế, người được thay vị trí chỉ đạo là ông Tư Cang. Lần từ căn cứ về thành, nỗi nhớ vợ, nhớ con dâng trào, ông đánh liều nhờ cán bộ giao thông đưa vợ ra sở thú. Hai vợ chồng vào vai cặp tình nhân. Họ gặp nhau chỉ dăm, bảy phút rồi tản đi mỗi người một hướng. Có khi chưa kịp hỏi chuyện cần hỏi về nhau, một số chuyện mà ông đã “gạch” những cái gạch đầu dòng trong đầu từ nhiều năm nay.
Và 29 năm sau
Ngày 30-4-1975, ông là Chánh ủy Lữ đoàn Đặc công biệt động, đơn vị đi đầu trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Buổi sáng lịch sử ấy, ông cùng đồng đội tiến vào Sài Gòn bằng chiếc xe Jeep vừa tước đoạt được của tên lính ngụy. Cũng chiếc xe ấy, ông vừa cầm lái vừa ca hát nghêu ngao qua phố phường Sài Gòn rồi rẽ vào con phố nhỏ bên dòng Thị Nghè. Nơi ấy, có người vợ yêu dấu âm thầm chịu đựng đau khổ trong suốt thời gian ông đi kháng chiến. Và còn nữa, đứa con ông chưa một lần được ẵm bồng. Niềm vui mừng khôn xiết tràn ngập căn nhà nhỏ. Con gái của ông tên Trần Thị Giang đã lập gia đình, sinh con. Cô đã 28 tuổi rồi còn gì. Đứa cháu ngoại lên 3 tuổi bập bẹ theo lời mẹ: “Chào ông ngoại bộ đội”. Mới đó mà đã mấy mươi năm, ông đã đi qua cuộc chiến nhưng lại không nghĩ rằng cuộc chiến kéo dài đến thế. Chiến tranh, chia ly, chết chóc…, nước mắt ông chực trào.
Tôi ngồi nghe ông kể về cuộc đời, về cuộc chiến trong căn phòng mà mọi thứ ngổn ngang, bừa bộn đến nóng, đến rối cả mắt. Đó là phòng khách, nơi từng tiếp nhiều đoàn khách nước ngoài, những người từng đứng bên kia chiến tuyến. Từ phòng khách nhìn ra phía trước là căn nhà gỗ sậm màu, ngả nghiêng xiêu vẹo. Ông bảo đó là nơi ông ngả lưng hàng đêm. “Thấy nó ngã ngửa ra, rủi nó sập rồi sao?”, tôi chưng hửng. Nghe vậy, ông không giận mà còn hài hước: “Mình còn xuống cấp huống chi căn nhà đã mấy mươi năm”.
Buổi chuyện trò sắp kết thúc, ông lại có điện thoại. 5 phút sau quay ra, mặt ông chùng xuống: “Lại một đồng đội nữa ra đi, ngoài 80 tuổi hết còn gì”.
Bài, ảnh: Trần Trọng Tri
| Ngày trở về, ông đã bước vào tuổi 48, cái tuổi đã đi qua gần nửa đời người, lại mang thương tật với tỷ lệ 61%. Đó cũng là lý do ông không thể có thêm một người con nào nữa. Ông lại cười, mắt long lanh: “Đời chinh chiến mà”. |


Bình luận (0)