Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Ngôi đền của lòng tôn sư trọng đạo: Kỳ 1: Đức y tổ Hải Thượng Lãn Ông

Tạp Chí Giáo Dục

Con đường đến với danh y

Đền thờ Hải Thượng Lãn Ông (Đại hội đầu tiên, năm 1967, bầu Ban trị sự Đền thờ Đức Hải Thượng Lãn Ông) (ảnh tư liệu)

Ông, tên húy là Lê Hữu Trác, tên thường là Lê Hữu Chẩn, sinh ngày 12-11-1724 năm  Giáp Thìn (cuối đời Hậu Lê) ở thôn Văn Xá, làng Lưu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Thanh Xá, xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, Hải Hưng). Hồi nhỏ Lê Hữu Trác theo cha đi học ở Thăng Long. Năm 1739 cha mất nhưng ông vẫn theo đuổi được việc học nhờ tài đảm của mẹ. Lớn lên, không chỉ đỗ tiến sĩ, ông còn giỏi võ, giỏi bày binh bố trận; giỏi thiên văn địa lý, bói toán, thuật âm dương phong thủy, nên được triều đình phong làm quan lớn. Lê Hữu Trác lớn lên trong tình hình đất nước loạn lạc, vua Lê hư vị, chúa Trịnh lộng quyền, các nơi đều nổi dậy chống đối. Khi làm quan, ông cũng từng cầm quân dẹp loạn nhưng vì chán ghét cuộc chém giết tương tàn ấy nên nhân có tin người anh ở Hương Sơn mất, ông viện cớ về quê nuôi mẹ rồi từ quan. Tại Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng và lấy tên hiệu là Hải Thượng Lãn Ông.
Một lần bị ốm, Lãn Ông tìm đến lương y Trần Độc ở núi Thành, xã Hương Cần, huyện Thanh Chương, Nghệ An, để chữa bệnh. Trong thời gian ở đó, hơn 2 năm ông nghiên cứu các sách y học kinh điển, nhất  là bộ Phùng thị cẩm nang và học nghề thuốc. Lúc ấy có Hải Quận Công biết Lãn Ông văn võ kiêm toàn muốn mời ra cầm quân lần nữa nhưng ông cương quyết chối từ…
Trở về Hương Sơn, Lãn Ông nghiên cứu y học và chữa bệnh. Năm  1760, mẹ  mất, lúc đó tuy mới 35 tuổi nhưng ông đã nổi tiếng là danh y. Ngoài việc chữa bệnh, Lãn Ông  còn mở lớp dạy cho đồ đệ. Trải qua hơn 20 năm tập trung nghiên cứu, đem hết tài năng và tinh thần tận tụy chữa bệnh và giảng dạy, Lãn Ông đã lĩnh hội được nguyên lý uyên thâm của đông y, thu lượm nhiều kinh nghiệm về chẩn trị, đúc kết thành một hệ thống kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn lâm sàng trong tác phẩm Y tông tâm lĩnh. Ngoài ra cụ còn viết tập Vệ sinh yếu quyết và bản Nữ công thắng lãm.
Năm 1782, đời Lê Hiến Tông, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43, Lãn Ông được triệu về kinh để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán, con chúa Trịnh Sâm. Ở triều đình, bị các ngự y ganh tỵ gièm pha, phải rất lâu Lãn Ông mới được phép chữa cho Trịnh Cán nên không có kết quả. Trong một năm ở kinh đô  ông tìm mọi cách để in bộ sách của mình nhưng không thành công. Ông cũng muốn tìm các vị danh y để trao đổi học thuật nhưng chỉ thu được một số bài thuốc kinh nghiệm hoặc gia truyền. Lãn Ông đã kể lại cuộc hành trình này ở tập Thượng kinh ký sự, và được đánh giá là một tài liệu sử học, văn  học giá trị, đã phản ánh đời sống xã hội Việt Nam lúc đó. Hiện tác phẩm trên được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, môn ngữ văn, bậc THPT.

Trở về Hương Sơn, Lãn Ông tiếp tục chữa bệnh, giảng dạy, nghiên cứu thêm 300 vị thuốc mới với 2.854 bài thuốc; và hoàn thành bộ Y tông tâm lĩnh – bộ sách đông y lớn nhất và quí nhất ở nước ta. Bộ sách gồm 28 tập, 66 cuốn, (nay chỉ còn 55 cuốn, do Vũ Xuân Hiên thu thập lại và đem in năm 1866).  Nội dung bộ sách bao gồm y lí, chẩn trị, phương dược. Sách trình bày có hệ thống, kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích chứng minh rõ ràng; trao đổi kinh nghiệm về  những bệnh nặng đã chữa khỏi hoặc không chữa được; căn dặn những điều rất bổ ích về chẩn đoán trị liệu và những sai lầm tai hại cần tránh. Điểm nổi bật là tuy chịu ảnh hưởng của y học Trung Hoa nhưng Lãn Ông rất sáng tạo, trên cơ sở vận dụng y lí phù hợp hoàn cảnh khí hậu, thể chất của người Việt Nam và chủ yếu sử dụng thuốc Nam để chữa bệnh, đồng thời nghiên cứu nhiều phương cách phòng bệnh, góp phần giữ gìn sức khỏe nhân dân.
Tấm lòng của một lương y
Hải Thượng Lãn Ông quan niệm về người làm nghề y: “Làm thầy thuốc phải có trách nhiệm bảo vệ sinh mạng con người. Phúc họa một tay mình nắm, sống chết một tay mình giữ. Thế thì đâu có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn, tấm lòng không rộng lượng, hành động không thận trọng, dối lòng, dối người, giấu dốt, hẹp hòi, tự mãn, tự cao tự đại, không trung thực, tranh công đổ lỗi: Thành công là do mình, thất bại là do bệnh! Hạng người như thế thì không học, không làm nghề thầy thuốc được…”.
Những quan điểm về nghề thầy thuốc của Lãn Ông đến nay vẫn mang tính thời sự. Chẳng hạn: Cụ đề ra “8 tội thầy thuốc cần tránh”, gồm: Lười (không thăm khám cẩn thận mà cho thuốc qua loa). Keo (thầy lo người bệnh không đủ sức trang trải mà cho vị rẻ hơn, ảnh hưởng đến hiệu quả chữa bệnh). Tham (bệnh đã vô phương cứu chữa nhưng thầy cứ ậm ừ điều trị để làm tiền). Dối (thấy bệnh nhẹ nhưng nói bệnh nặng để làm tiền). Dốt (sức học nông cạn, bốc thuốc lộn xộn). Ác (đã thấy là chứng khó, lẽ ra phải nói thật cho người nhà biết rồi ra sức chữa nhưng sợ mang tiếng là thầy không có tài, lại ngại không thành công nên không nhận chữa mặc người ta bó tay chịu chết). Hẹp hòi (có người thường ngày bất bình với mình, khi họ bệnh thì nảy ý trả thù, không hết lòng chữa bệnh). Thất đức (thấy người mồ côi, góa bụa, nghèo túng, biết điều trị cho họ thì không được bao nhiêu tiền nên không dốc sức điều trị).
…Để suy tôn và tưởng nhớ  Hải Thượng Lãn Ông, đồng thời duy trì, giữ vững nền y học cổ truyền của dân tộc; năm 1967, các đông y, dược sĩ yêu nước thuộc Tổng hội Đông y học Việt Nam, và một số nhân sĩ trí thức của tỉnh Phong Dinh  cũ (nay là TP.Cần Thơ) đã đóng góp xây dựng đền thờ cụ, trên phần đất rộng 213m2 tại số  69/50,  đường Cách Mạng Tháng Tám, phường An Hòa, quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ, do ông Nguyễn Văn Đóa và vợ là bà Nguyễn Thị Hương, hiến tặng.
Đan Phượng
LTS: Đại danh y Hải Thượng Lãn Ông – Đức y tổ của nền y học cổ truyền nước ta được nhân dân và giới y học Việt Nam suy tôn là bậc “Y thánh của Việt Nam”. Ngoài đền thờ của cụ ở quê nhà tỉnh Hải Dương, thì ở miền Nam cũng vinh dự có đền thờ ông đặt tại TP.Cần Thơ. Đây là nơi mà hàng năm, vào ngày 16-1 âm lịch, chính quyền địa phương, các vị  lương y, bác sĩ,  cán bộ nhân viên ngành y từ TP.HCM và các tỉnh thuộc khu vực Nam bộ, về đây long trọng làm lễ giỗ cụ. Đền thờ cũng là di tích lịch sử của TP.Cần Thơ. Nhân kỷ niệm Ngày Thầy thuốc Việt Nam 27-2, Giáo Dục TP.HCM xin giới thiệu loạt bài về ngôi đền này.
 
 

Bình luận (0)