|
Công dân trẻ ở xóm nhà ghe tất bật với công việc hàng ngày |
Nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn chảy qua địa phận phường Tân Thuận (quận 7, TP.HCM), bên mé cầu Kênh Tẻ, xóm ghe hình thành đã ngót nghét nửa thế kỷ nay. Những ghe trái cây khẳm đầy, miết mải chạy từ miệt ĐBSCL lên và chọn nơi đây để neo lại mưu sinh. Những cuộc đời già, non… tiếp tiếp nhau trên những chiếc ghe như dòng chảy vĩnh hằng của con nước. Bốn mùa lênh đênh… chứng kiến bao đổi thay mà như đi bên lề thành phố.
Có chừng 20 nóc ghe của cái xóm nhà ghe ấy. Ghe nào cũng giống nhau ở cái vẻ tồi tàn, nhếch nhác, cũ kỹ và có phần gì đó bẩn thỉu. Những mảnh gỗ ván cong cong, mỏng manh là thứ duy nhất để nối liền cuộc sống trên bờ và dưới nước. Có cảm giác như ở cái bến ghe này, khái niệm của nỗi buồn, tổn thương hay bất cứ điều gì đó mà một kiếp người phải nếm trải đều ngưng lại. Nó quyện hòa và tan đi theo mỗi con nước lớn – ròng; nó vỡ ra trên những mạn thuyền ăm ắp trái cây; nó cuốn theo những toan lo hết sức giản đơn ngày mỗi ngày tiếp nối; vỡ đi trên những sinh sôi, tiếng trẻ khóc…
1. Tôi chạy xe tà tà trên đường Trần Xuân Soạn, phía xa là cảng Sài Gòn, tiếng còi tàu vào cảng hú lên nghe toang hoang vỡ. Sáng Sài Gòn cuối mùa mưa, nắng trải vàng trên những mái ghe và nhuộm ươm màu cây trái, nhìn thích thú như một bức tranh. Dưới lòng một chiếc ghe cũ chất đầy dừa tươi, anh Lưu và hai con nhỏ đang lúi húi chọn dừa để giao cho khách trên bờ. Dừa chất cao chạm nóc ghe, lăn lóc trên mạn ghe. Anh Lưu quê tít Bạc Liêu, tôi hỏi sao lại bán dừa. Anh nói, lấy vợ Bến Tre thế nên theo vợ theo luôn nghiệp dừa. Chiếc ghe cũ này vợ chồng anh mua lại của người bà con bên vợ, đến tận bây giờ, hơn chục năm đã qua mà nợ vẫn chưa trả hết. Vợ anh thì bán dừa ở một khu chợ gần cảng, đi từ tờ mờ sáng đến chạng vạng tối. Cậu con trai út mới 10 tuổi, cô con gái lớn 12 tuổi cũng đều đã nghỉ học từ mấy năm nay, theo cha mẹ lênh đênh như lục bình. Mỗi tháng đều đặn anh xuôi ghe về Bến Tre 2 lần để lấy dừa. Rồi lại trở lên Sài Gòn.
Nhi là tên cô con gái lớn của anh, nhanh nhẹn và tháo vát hơn rất nhiều so với tuổi 12. Cả chùm dừa chục trái, tôi khệ nệ bưng mà muốn vẹo xương sườn vì nặng, còn Nhi thì thoăn thoắt đôi chân trần trên chiếc cầu ván ép. Thoăn thoắt chặt dừa, thoăn thoắt thu tiền. Cậu em thì mải chơi hơn, vừa động vào đống dừa đã kêu đau tay. Chị Nhi lại chạy đến, chìa bàn tay đen đuốc, nhỏ bé ra đỡ lấy.
Anh Lưu nói rằng, vì nhà nghèo và nghiệp ghe nên đành cho các con nghỉ học. Biết được hết mặt chữ cái mà ghép tên, biết được con toán mà đếm mà tính cũng đã là đủ với người đi ghe rồi. Vì các con anh nếu có được học nữa, cuối cùng cũng chỉ quẩn quanh bên những trái dừa, lăn lóc trên mái ghe, lấy chồng, sinh con, già cỗi và chết đi cũng trên chiếc ghe này.
Mọi sinh hoạt của cái gia đình 4 con người ấy đều vun vén quanh mép ghe, vừa là chiếc cần câu cơm. Nước sinh hoạt thì mua của người trên bờ, mỗi ngày hết chừng 6 ngàn đồng được 4 can 30 lít. Nào tắm, nào giặt, nào rửa rau, vo gạo… Điện thì sạc bình ở tít bên Nhà Bè, phần nhiều chỉ dùng để chạy quạt điện. Anh Lưu vừa trò chuyện vừa tranh thủ đếm dừa, gọt dừa còn Nhi bưng lên bờ, chằng vào xe máy để bố chở đến mối quen là các quán giải khát. “Mỗi trái dừa chỉ lãi có vài trăm đồng thôi nhưng là nghiệp rồi, chẳng bao giờ nghĩ sẽ bỏ, sẽ dứt cái nghề cả”.
Tôi hỏi bé Nhi rằng, con có muốn đi học nữa không? Cô bé con không trả lời, chỉ len lén nhìn ba, rồi lại nhìn con nước, nhìn đống dừa chất ngất. Cậu em trai nhảy tuốt lên mái ghe, ngồi ở đó đung đưa đôi chân trần, bưng trái dừa tu một hơi, nheo nheo mắt gọi chị.
2. Hàng xóm của anh Lưu, cách vài ghe là ghe của Nhân, chở đầy chuối, bưởi, đu đủ. Nhân còn trẻ, mới 22 tuổi, quê Cà Mau. Dáng vẻ phong sương, bụi bặm như lãng tử. Nhân ở ghe với vợ chồng em gái. Em gái Nhân 20 tuổi, vừa sinh cậu con trai được hơn tháng nên chỉ ở nhà ghe, chăm con và lo cơm nước. Còn Nhân và cậu em chồng thì chạy trên bờ, bán trái cây, chở xe đẩy đi vòng vòng các ngõ hẻm. Nhân nói, cả gia đình Nhân từ ba mẹ đến các cậu, các thím đều làm nghề này tất tần tật, làm từ đời ông cố ông sơ. Ba mẹ Nhân với thím một ghe, các cậu một ghe, Nhân với em gái một ghe.
Nhân không bao giờ đi chơi cả, cũng chưa bao giờ biết đến những buổi cà phê, hẹn hò. Nhắm mắt, mở mắt chỉ thấy chuối, thấy đu đủ, thấy mũi ghe, thấy con nước vây quanh. Tôi hỏi, thế Nhân có người yêu chưa. Anh cười măng búp: “Nghèo khổ như em, lênh đênh như em thế này làm gì có ai mà yêu…”. Tôi lại hỏi, thế thì buồn nhỉ. Nhân nói, Nhân không thấy buồn, thấy mọi thứ đều bình lặng. Không có ham muốn gì nhiều, cũng chẳng có ước mơ. Cuộc sống ở đây đơn giản lắm. Trẻ con được sinh ra cũng hồn nhiên như nước. Người ta lấy nhau cũng hồn nhiên như nước. “Chỉ lo là trái cây không bán hết thì rục rũ thôi. Mùa nắng thì cực nhưng mà bán được. Mùa mưa bớt cực thì lại bán chậm. Nhiều hôm phải ăn trái cây thay bữa…” – Nhân vừa bán trái cây vừa chia sẻ.
Trưa. Nắng gắt hơn. Gió cũng lặng hơn. Mùi hôi từ con nước bốc lên nồng nặc. Nhân nói, mọi thứ đều thải thẳng xuống sông, vệ sinh, hoa quả thối, sinh hoạt… nên nắng lên thì hôi lắm nhưng mà riết quen rồi.
Mỗi tháng Nhân chạy ghe về miền Tây 2 lần lấy trái cây. Thi thoảng lại phải chạy xuống khúc sông dưới neo, vì bị địa phương đuổi. Ở đây, đâu có được phép đậu ghe. “Nghe nói chỗ này người ta sắp giải tỏa rồi. Chị có thấy người ta đang xây lan can kia không. Là sẽ bị đuổi đi hết đấy, không còn chỗ buôn bán. Rồi chẳng biết sẽ đi đâu nữa…”. Đây có lẽ là thứ toan lo lớn nhất, duy nhất với những công dân ở xóm ghe này. Cái nghèo, cái khó, oằn lưng tất tả… với họ đều không có nghĩa lý gì. Những lênh đênh, nênh nổi cũng không nghĩa lý gì. Chỉ cái nghiệp là họ sợ phải đánh đổi, sợ phải rớt rơi…
Tiếng khóc của cháu Nhân oe oe vang lên trong trưa nắng. Tiếng em gái Nhân ru con ngủ mà ngậm ngùi. Tiếng chú chó Mực nhà Nhân sủa đổng, tiếng cười của chàng thanh niên 22 tuổi… Tất cả vẫn là cuộc sống. Tôi ngồi giữa đất trời, ngó bên kia cây cầu Tân Thuận bin bin còi xe, thấy lòng mình rỗng rễnh. Chẳng biết nữa, nên vui hay nên buồn.
3. Có cậu bé rủ tôi chơi trò lăng quăng. Nghĩa là sẽ cùng nhau chạy qua cây cầu ván bắc ghe lên bờ và lại chạy xuống. Tôi lắc đầu. Sợ lắm.
Cậu nhóc tên Sáng (mà đen như than) – 9 tuổi. Là con của ông Quang chủ một ghe bán dừa. Sáng còn cô em 5 tuổi tên Vân, đang ngủ dưới ghe. “Cô chết nhát” – Sáng nói với tôi như thế. Tôi giơ tay lên hù đánh yêu, cậu bé chạy tuốt xuống ghe, lát sau lên bưng cho tôi trái dừa cắm sẵn ống hút. Tôi đưa 10 ngàn đồng dúi vào tay Sáng.
– Sáng còn đi học không?
– Con nghỉ học từ năm ngoái rồi cô ơi.
– Thế có biết đọc, biết làm toán không?
– Dễ ợt à.
– Tại sao con nghỉ học?
– Con chán học rồi, nhà nghèo, ba má kêu nghỉ…
– Sáng biết làm gì giúp ba má?
– Con biết bưng dừa, chặt dừa, con biết trông em Vân, biết trông ghe, nấu cơm phụ ba má…
Khi ngồi bên cậu bé Sáng, vắt vẻo ở trên cây cầu ghe cong cong mỏng mảnh ấy, nghe cậu bé thầm thì. Cái nghèo của cha mẹ, với những đứa con dù ít dù nhiều cũng là điều cay nghiệt. Sáng nói: “Lớn lên Sáng sẽ lái thuyền ra biển như cha Sáng vậy. Sáng không thích lên bờ đâu. Thích ở dưới ghe với ba má và em gái thôi…”.
Mảnh ván ép cong cong kẽo kẹt nơi mà tôi và Sáng đang ngồi, như một vạch nối chạy giữa hai miền giản đơn và phức tạp, đủ đầy và thiếu thốn, ánh sáng và bóng tối. Chỉ cách nhau cái vạch nối ấy thôi mà sao thấy như xa lắc. Gió trưa thổi bay phần phật chiếc áo nhà nào đó phơi trên mũi ghe. Một vạt lục bình trôi đơn độc. Tôi nghe, như tiếng lòng mình đang thổi, đang trôi…
Bài, ảnh: Yến Hoa


Bình luận (0)