|
Bà Nguyễn Thị Hạnh, vợ Anh hùng Nguyễn Thanh Năm lần giở những bức ảnh kể về cuộc đời hoạt động của chồng |
Đứng trên căn cứ địa Hòn Tàu, giữa bạt ngàn màu xanh ngút ngát của rừng già điểm vài ba màu hoa dại của núi rừng, tưởng như câu chuyện tình yêu đầy lãng mạn của Anh hùng Nguyễn Thanh Năm và cô du kích Nguyễn Thị Hạnh vừa diễn ra không hề vương tiếng đì đùng của bom đạn chiến tranh…
Đám cưới không xe hoa
Giữa chiến dịch Mậu Thân 1968 ác liệt, tình yêu của Bí thư Quận nhất Nguyễn Thanh Năm với cô giao liên cơ sở Hòa Vang Nguyễn Thị Hạnh đã nảy nở để rồi vượt qua bao lằn ranh mong manh của cái chết – sự sống, họ đã đến với nhau, viết nên câu chuyện tình yêu đẹp như cổ tích giữa tầm bom đạn. Bà Hạnh nhớ về những ngày tuổi trẻ cuộc đời mình “Năm 1967, tôi thoát ly, được điều về làm ở Quận nhất rồi chúng tôi gặp nhau ở đó. Tình yêu của chúng tôi bắt đầu từ sự cảm mến, khâm phục những trận đánh xuất quỷ nhập thần của anh ấy. Qua sự chết – sống, tình cảm giữa tôi và anh càng sâu đậm, gắn kết nhau hơn. Trên chiến trường ác liệt, anh Năm không chỉ là người yêu biết quan tâm, an ủi mà anh còn là người lãnh đạo, đồng chí, đồng thời là người thầy trong công tác. Anh luôn sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, động viên đúng thời điểm. Ngày đó yêu nhau nhưng chúng tôi phải sống xa nhau vì điều kiện chiến tranh. Sợi dây gắn kết tình cảm của chúng tôi là niềm tin dành cho nhau, tin ở ngày toàn thắng. Đám cưới thời chiến tranh diễn ra thật giản dị mà nồng ấm. Hồi đó, tôi đang bám trụ ở Xuân Thiều thì giao liên đưa thư anh nói anh chuyển hẳn công tác về tỉnh nên muốn gặp tôi nói chuyện. Trên suốt chặng đường đi, anh em bảo là đang sắm lễ vật làm đám cưới chúng tôi. Tưởng đùa ai dè thật. Hội trường hôm ấy đông nghịt người đến chia vui. Tiệc cưới đơn giản bằng bánh mứt và nước chè xanh được tổ chức trong tiếng vỗ tay, lời chúc ấm áp của đồng đội. Thế là chúng tôi thành vợ chồng, không xe hoa, không áo dài ngày cưới, vợ chồng tôi chỉ mặc bộ quân phục cũ màu…”.
Sau cái đám cưới giản dị ấy, họ lại chia tay nhau lên đường chiến đấu. Khói lửa mỗi người mỗi ngả theo nhiệm vụ thiêng liêng của Tổ quốc giao phó. Tháng 3-1970, khi đang trên đường đi hoạt động hợp pháp thì bà Hạnh bị địch bắt. Chúng dùng mọi ngón đòn tra tấn dã man làm bà chết đi sống lại cả chục lần, không lấy được lời khai, cuối cùng chúng đưa bà vào Quy Nhơn (Bình Định). Đến tháng 10-1972, chúng chuyển bà vào trại tù Cần Thơ. Thời đó đã bị địch bắt giam thì coi như một đi không hẹn ngày trở lại. Thế nhưng, sắp đến hiệp định Paris, bàn cờ chính trị lẫn quân sự bị ta lật ngược, địch buộc phải tổ chức trao trả tù binh tại Tây Ninh. Bà Hạnh nằm trong số đó.
Được tự do bà Hạnh vừa mừng vừa tủi. Sau mấy năm chịu đòn roi tra tấn của nhà tù, chuyển đi hết nơi này đến nơi khác, ngày được tự do ở Tây Ninh, gặp nhiều đồng chí, người bảo ông Năm đã hi sinh, người cho rằng ông Năm đã có vợ ở quê nhà, lòng bà lại quặn thắt. Mãi cho đến một ngày năm 1974, ông Võ Văn Đồng, Phó ban tổ chức Khu 5 dò hỏi rồi khẳng định: “Thằng Năm còn sống sờ sờ ra đó. Ai nói nó chết? Ai nói nó có vợ?”. Rồi ông bảo bà Hạnh đi cùng ông 2 ngày đường về vùng núi Trà My (Quảng Nam) thì sẽ gặp được chồng. Thế là bà khăn gói lên đường…
Hạnh phúc vẹn tròn
“Nghe tin tui về đến Trà My, ông ấy đang họp liền sắp xếp thời gian chạy lên, nhưng qua đoạn sông Tranh nước lũ cứ ào ạt ùa về, đợi suốt nửa ngày trời vẫn không thể nào qua sông được thế là ông đành quay về, hôm sau hai vợ chồng mới được gặp nhau”, bà Hạnh kể. Vượt qua bao nhiêu thử thách của thời gian, của chiến tranh, hạnh phúc giữa họ từ đây mới thực sự bắt đầu. Đứa con gái đầu lòng của ông bà tên Nguyễn Thị Thu Thủy sinh năm 1975 là kết quả của sự hạnh ngộ sau 5 năm bặt tin nhau cất tiếng khóc chào đời nơi cứ địa cách mạng Hòn Tàu. Một cuộc sống mới, hạnh phúc mới nảy mầm trên miệng hố bom đầy rẫy chết chóc.
“Sau ngày hòa bình, vợ chồng tui cùng về Đà Nẵng tiếp tục phục vụ công tác. Anh Năm được phân công làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch. Tiếp đó ảnh được đi học bổ túc văn hóa từ lớp 3 đến lớp 12. Bỏ lỡ thời gian học hành nên được đi học lại ảnh chăm dữ lắm, học đến chảy máu dạ dày. Sau hai năm học Trường Nguyễn Ái Quốc (Hà Nội) ảnh được phân công về làm Trưởng ban Nông nghiệp tỉnh rồi Giám đốc Sở Nông nghiệp. Sau về Công ty Nông sản cho đến ngày nghỉ hưu”, bà Hạnh kể.
Căn nhà nhỏ của ông bà bên đường Lê Lợi (quận Hải Châu) luôn rộn rã tiếng trẻ thơ. Bà Hạnh cho biết, sau chị Thủy, hai ông bà có với nhau thêm một người con trai. Cả hai anh chị đều đã có gia đình, con cháu đề huề. Căn nhà đã vắng tiếng ông hơn 15 năm. Chị Thủy bảo, với tôi ba vẫn sống mãi bởi những huyền thoại và sự hi sinh trong chiến tranh. Từ ba, tôi học được những kinh nghiệm hữu ích về hoạt động kinh tế – xã hội. Ba là chỗ dựa niềm tin của chúng tôi. Với cả gia đình, ba chưa hề đi xa dù chỉ một ngày.
Bà Hạnh vẫn luôn gìn giữ những kỉ vật về người chồng yêu thương của mình từ cuốn sổ tay đến góc bàn làm việc hay chiếc tách trà… Không chỉ với riêng bà, với người dân Quảng Nam – Đà Nẵng, người Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thanh Năm vẫn sống mãi. Như lời của Trưởng ban Nội chính Trung ương, Nguyễn Bá Thanh: “Chính anh là hiện thân của chiến thắng cách mạng. Là người gieo hạt giống cách mạng để từ Thanh Khê xuất hiện mẹ Nhu anh hùng, những dũng sĩ bất tử. Anh có nhiều chiến công như huyền thoại song lại giản dị, sáng tỏ như sự thật. Vì đó là chiến công của mưu trí, dũng cảm của một chiến sĩ xả thân vì nghĩa lớn bao giờ cũng ở thế tiến công của một chiến sĩ luôn luôn sống trong lòng dân!”.
Phan Vĩnh Yên


Bình luận (0)