Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Tiếng Việt lý thú “Ăn đũa” là ăn gì?

Tạp Chí Giáo Dục

Nhân s kin 4 đi bóng U23 Vit Nam, Trung Quc, Nht Bn và Hàn Quc vào bán kết Gii U23 châu Á 2026, nhiu ngưi phn khích tht lên: “Bn đi ăn đũa vào bán kết!”.

Trên mạng xã hội cũng xuất hiện bức hí họa với lời thoại dí dỏm 

Bên cạnh diễn biến trên sân, một chi tiết thú vị về tập quán ẩm thực được mạng xã hội đề cập đến, là 4 đội vào bán kết AFC U23 Asian Cup Saudi Arabia 2026 đều đến từ những quốc gia có truyền thống dùng đũa khi ăn. Từ đó, gợi liên tưởng mở rộng đến nhiều câu chuyện thú vị trong địa hạt văn hóa ẩm thực lẫn ngôn ngữ của 4 nước gần gũi nhau về văn hóa.

Từ sự kiện này, nhiều người bày tỏ nhận xét một cách hóm hỉnh: Phe ăn đũa vào bán kết, team dùng/xài đũa chiến thắng team dùng/xài nĩa… Tuy cả 4 quốc gia đều có truyền thống dùng đũa, nhưng lịch sử hình thành, chất liệu và phép tắc trên bàn ăn lại khác nhau, phản ánh rõ nếp sống và ẩm thực từng nơi. Trong lịch sử Đông Á, đôi đũa đã trở thành dụng cụ ăn uống phổ biến và lan tỏa mạnh sang một phần Đông Nam Á. Sớm nhất có lẽ là Trung Quốc rồi dần lan ra khắp Đông Á, theo nhiều tài liệu thì đôi đũa bằng tre, gỗ xuất hiện cách đây hơn 3.000 năm trước – từ thời nhà Thương, thoạt tiên được dùng trong bếp để gắp, đảo thức ăn khi nấu nướng, về sau trở thành dụng cụ trên bàn ăn, dùng đũa để gắp thức ăn thay cho việc ăn bốc bằng tay. Việc dùng đũa ở Nhật Bản xuất hiện vào thế kỷ thứ VII do du nhập từ Trung Quốc qua ngả Triều Tiên, còn ở Việt Nam đôi đũa chính là sản phẩm của nền văn minh gốc nông nghiệp lúa nước lâu đời.

Theo văn hóa ẩm thực, đôi đũa không chỉ để thực khách gắp thức ăn, mà còn dùng để gắp mời xã giao, nhường phần, tạo nên kiểu giao tiếp đặc trưng. Đôi đũa đảm trách nhiều thao tác trong khi ăn như gắp, và, khoắng, vớt và nối dài tầm tay để với tới những món ở xa trên bàn ăn chung, trong lúc văn hóa ẩm thực nhiều nước quen ăn theo phần riêng nên dùng dao, nĩa, muỗng…

Hình ảnh trên mạng xã hội

Đối với nhiều nước châu Á, đũa là một vật dụng rất quen thuộc trong bữa ăn, là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Hiện nay đũa được dùng phổ biến tại Trung Quốc, Đài Loan, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản. Việc đối sánh đôi đũa ở Việt Nam và các nước Đông Á khác cho thấy những điểm khác biệt và tương đồng thú vị, cho thấy đôi đũa là một phần không thể thiếu trong đời sống của người Việt cũng như cư dân của nhiều nước châu Á khác.

Dùng đũa là văn hóa đặc trưng của phương Đông, gắn liền với nền ẩm thực lúa nước, thức ăn được chế biến nhỏ và triết lý chia sẻ, trong khi phương Tây sử dụng dao, nĩa, muỗng vì cách chế biến thức ăn chính (bánh mì, khoai tây, thịt tảng) khác biệt, cần dụng cụ cắt, xén thức ăn, tượng trưng cho sự khác biệt văn hóa và tư duy ẩm thực.

Nét khác biệt về triết lý ẩm thực chủ yếu: phương Đông nhấn mạnh sự chia sẻ, đoàn kết trong lúc phương Tây thiên về sự cá nhân hóa trong bữa ăn. Trong khi người phương Tây lúc ăn phải dùng một bộ đồ ăn gồm dao, muỗng, nĩa, với các chức năng riêng biệt, thì người phương Đông chỉ dùng một đôi đũa (gồm hai chiếc que) nhưng sử dụng một cách tổng hợp và cực kỳ linh hoạt, đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau: gắp, vẽ, và, giằm, trộn, vét… Ngoài ra, đôi đũa còn là công cụ chắp dài thêm tầm tay người và được vận dụng theo nguyên lý đòn bẩy một cách hiệu quả để gắp thức ăn ở xa trên bàn ăn.

Trong khi dao, muỗng, nĩa là những dụng cụ ẩm thực phổ biến và không thể thiếu ở phương Tây, thì với người Á Đông, trong đó có Việt Nam, một đôi đũa sẽ thay thế tất cả những dụng cụ phức tạp trên bàn ăn. Theo nhiều nhà văn hóa giải thích thì cách người châu Âu sử dụng dao, nĩa là cách ăn bắt chước những loài vật ăn thịt sống dưới đất (ví dụ như chiếc nĩa được thiết kế giống móng vuốt của loài ăn thịt), còn cách dùng đũa trên bàn ăn của người Á Đông là học theo cách ăn của loài chim (dùng mỏ để gắp thức ăn).

Người dân nước ta dùng đũa trong bữa ăn Việt từ cơm đến bún, phở, từ món khô đến món nước, từ bữa cơm gia đình đến hàng quán, nó vừa là dụng cụ gắp vừa tiêu biểu cho một tập quán lâu đời trong sinh hoạt, sử dụng đũa làm công cụ ẩm thực, ứng xử với nhau và duy trì nếp sống, đặc trưng văn hóa, chia sẻ và gắn kết gia đình qua trường kỳ lịch sử. Viết đến đây, người viết bỗng chợt nhớ một câu ca dao phổ biến trong thời kỳ kháng chiến có liên quan đến tập quán dùng đũa của bộ đội: “Bộ đội ăn đũa hai đầu/ Lấy chồng bộ đội làm dâu Bác Hồ”.

Ngoài ra, bằng hình tượng đôi đũa, người Việt đã thể hiện triết lý cặp đôi, đoàn kết, nhân sinh qua nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Vợ chồng như đũa có đôi, vơ đũa cả nắm, so bó đũa chọn cột cờ…; Đôi ta như đũa trong kho/ Không tề, không tiện, không so cũng bằng, Đôi ta làm bạn thong dong/ Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng/ Bởi chưng thầy mẹ nói ngang/ Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau… Trong truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” tương truyền xuất hiện từ thời Hùng Vương, do hai anh em sinh đôi giống nhau quá, muốn phân biệt, cô chị dâu bèn dọn hai chén cơm và một đôi đũa, thấy người này nhường người kia đôi đũa, chị biết ngay người nhường là người em. Truyện ngụ ngôn “Bó đũa” nhằm nhắn nhủ sự đoàn kết trong gia đình, xã hội: người ta không thể dùng tay bẻ cả bó đũa một lần mà chỉ có thể: “bẻ đũa từng chiếc một”.

Trở lại với các phát ngôn: ăn đũa, dùng đũa, xài đũa đã đề cập ở đầu bài, theo từ điển tiếng Việt thì “xài” có nghĩa là tiêu, dùng; “dùng” có nghĩa là “lấy làm vật liệu, phương tiện để nhằm tạo ra cái gì, thực hiện việc gì”, hoặc cũng có thể sử dụng từ “dùng” nhằm thể hiện sắc thái lịch sự, trang trọng, kiểu cách khi mời ai ăn uống, ví dụ: Mời hai bác dùng cơm trưa; Mời khách dùng trà. Còn “ăn đũa”, nếu phân tích rạch ròi theo cấu trúc cú pháp tiếng Việt thì thoạt tiên dễ thấy đây là cụm từ không logic. Một người nước ngoài học tiếng Việt sẽ ngạc nhiên khi nghe một bà mẹ Việt Nam hỏi con: “Con ăn đũa hay ăn muỗng?”. Vì nếu phân tích theo cấu trúc bình thường, như các câu: “Ông ăn chả”, “Bà ăn nem”, “Nó ăn chè” thì 3 câu này sẽ có 3 chủ ngữ (ông, bà, nó), 3 vị ngữ (cùng là “ăn”) và 3 bổ ngữ trực tiếp (chả, nem, chè). Đối chiếu với phát ngôn trên thì chuyện hỏi con “ăn đũa” hay “ăn muỗng” quá vô lý vì “đũa” và “muỗng” không phải thức ăn; tuy nhiên, trong thực tế đời sống, bất cứ một người Việt Nam bình thường nào, kể cả trẻ em 5-6 tuổi đều hiểu rằng, ở đây mẹ hỏi con “ăn bằng đũa hay ăn bằng muỗng”.

Đây chính là quy luật tiết kiệm ngôn ngữ, trong giao tiếp người ta có thể rút gọn tới mức cao nhất có thể, nhằm tạo sự thuận lợi, nhanh gọn khi trò chuyện, mà ai cũng dễ dàng hiểu được, tránh sự rườm rà, cứng nhắc, máy móc khi nói đầy đủ một cách không cần thiết.

Trong giao tiếp tiếng Việt hiện cũng tồn tại khá nhiều trường hợp phát ngôn rút gọn tương tự như trên, như: đi hớt tóc/đi chụp ảnh/đi sửa xe/đi may áo/đi nhổ răng… mà mọi người Việt đều dễ dàng hiểu rằng đó là những cụm từ dạng rút gọn thay cho cách nói đầy đủ dài dòng: Tôi đi đến nơi để người ta hớt tóc/chụp ảnh/sửa xe/may áo/nhổ răng… cho tôi.

Tản mạn nhân cảm xúc hào hứng của người hâm mộ môn túc cầu về kết quả đáng khích lệ của bóng đá nước nhà – một đội thuộc “phe ăn đũa”, càng thấy thêm sự giàu đẹp của tiếng mẹ đẻ chúng ta và nhiều điều thú vị trong ngôn ngữ tiếng Việt qua giao tiếp trong đời sống.

Đ Thành Dương

Bình luận (0)