Không phải là gương mặt rực rỡ, tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932-1945), nhưng chính Phan Khôi (biệt hiệu Chương Dân) lại là “người khởi xướng trước nhất” (Vũ Ngọc Phan) về Thơ mới. Từ bài thơ Tình già, Phan Khôi không chỉ mở ra một lối đi mới cho thi ca, mà còn châm ngòi cho cuộc tranh luận sâu sắc giữa “cái cũ” tức thơ cũ và “cái mới” tức thơ mới trong đời sống văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX trước đây.

Người mở đường đầy cá tính trong phê bình, biên khảo…
Phan Khôi (1887-1959) sinh ra trong một gia đình nhà Nho, được nuôi dưỡng trong môi trường Hán học truyền thống. Như nhiều trí thức cùng thời, ông từng bước vào con đường khoa cử của xã hội phong kiến. Những biến động của đầu thế kỷ XX, sự du nhập của văn hóa phương Tây và sự khủng hoảng của hệ giá trị cũ đã đặt ra trước mắt thế hệ trí thức như ông một câu hỏi lớn là tiếp tục đi tiếp con đường trí thức Nho học hay phải thay đổi? Chính sự “đứt gãy” này mang ý nghĩa đặc biệt. Nó không chỉ là câu chuyện cá nhân mà còn là biểu tượng của một thời đại. Thời đại mà văn học Việt Nam bắt đầu rời khỏi quỹ đạo trung đại để bước vào con đường hiện đại hóa. Phan Khôi, bằng trải nghiệm và tri thức của mình, đã trở thành một “cầu nối” giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại. Như cách mà Hoài Thanh đã gọi thi sĩ Tản Đà là “người của hai thế kỷ” trong Thi nhân Việt Nam.
Điểm đáng nói ở Phan Khôi không phải là việc ông “bỏ cũ theo mới”, điều nhiều người đã làm, mà là cách ông lựa chọn thay đổi. Ông không phủ nhận sạch trơn truyền thống, nhưng cũng không chấp nhận bị trói buộc bởi những khuôn mẫu đã lỗi thời. Từ một người am hiểu sâu sắc kinh điển Nho gia, ông chuyển mình sang tư duy hiện đại, đề cao lý trí, cá nhân và tinh thần phản biện. GS. Hoàng Tuệ nói về Phan Khôi trong lời giới thiệu cuốn Việt ngữ nghiên cứu (Phan Khôi) như sau: “Phan Khôi không đồng tình với cách nghĩ cho Quốc học phải tiếp tục là Hán học. Theo ông, xưa nay, nước ta chẳng có gì là Quốc học cả. Toàn những vay mượn đó thôi! Của ta chỉ có văn học với những sáng tác văn chương nghệ thuật. Nhưng văn học đó, dù xuất sắc như Truyện Kiều, chưa coi là Quốc học được. Quốc học, theo ông phải là học vấn, triết học, tư tưởng do chính ta xây dựng nên…” (Việt ngữ nghiên cứu, Phan Khôi, NXB Thế giới, 2020, tr.10).
Chính cách nghĩ trên của Phan Khôi đã giúp ông trở thành nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học, nhà biên khảo… có cá tính. Điều mà GS. Nguyễn Đăng Mạnh gọi Phan Khôi là người có cảm hứng “gây sự”, tính khí của người tiêu biểu cho “Quảng Nam hay cãi”. Còn tác giả Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại đã từng nhấn mạnh đến cá tính của một con người thẳng thắn, hay tranh luận, không ngại va chạm, có phần “khó tính” trong học thuật nhưng chính điều đó tạo nên giá trị và ông thuộc mẫu trí thức độc lập, không dễ hòa vào đám đông. “Trong khi phê bình thơ, Phan Khôi thường hay nói bạo, nhưng chính những chỗ nói bạo của ông là những chỗ có duyên nhất” (Vũ Ngọc Phan, Nhà văn hiện đại, NXB Khoa học Xã hội, 1989, tập một, tr. 238).
Trong khi đa số lối viết phê bình, khảo cứu của các nhà nghiên cứu ở nước ta từ trước đến nay chủ yếu là khen, thì cách phê bình không ngại va chạm, có khen có chê, những phát hiện độc đáo, cá tính của Phan Khôi là một nhân cách đáng quý. Điều này trong giới phê bình hiện đại rất hi hiếm. Người ta hay khen học giả Phan Ngọc, nhà nghiên cứu văn hóa, cũng vì có phẩm chất này.
Tình già – dấu ấn cho sự ra đời Thơ mới
Nếu phải chọn một dấu mốc tiêu biểu cho vai trò “mở đường” của Phan Khôi, không thể không nhắc đến bài thơ Tình già – tác phẩm được xem như một trong những “phát súng” báo hiệu khai sinh phong trào Thơ mới.
Theo Vũ Ngọc Phan, bài thơ này đăng lần đầu trong Phụ nữ tân văn, số 122, ra ngày 10-3-1932. Nhưng theo ý kiến của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, bài này đã in sớm hơn. Văn bản như sau: Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa./ Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,/ Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:/ – Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,/ Mà lấy nhau hẳn đà không đặng:/ Để đến nỗi, tình trước phụ sau,/ Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau/ – Hay! Mới bạc làm sao chớ?/ Buông nhau làm sao cho nỡ!/ Thương được chừng nào hay chừng nấy,/ Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!/ Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng,/ Mà tính việc thủy chung?/ Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau./ Đôi cái đầu đều bạc./ Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được./ Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,/ Con mắt còn có đuôi. Văn bản trên in trong Báo Phong hóa số Tết năm Quý Dậu (24-1-1933), theo Vũ Ngọc Phan.
| Phan Khôi (1887-1959): hiệu Chương Dân, là một trong những tên tuổi lớn của báo chí, văn học và tư tưởng Việt Nam thế kỷ XX. Sự nghiệp cầm bút của Phan Khôi kéo dài hơn nửa thế kỷ với sự cộng tác cùng khoảng 30 tờ báo khác nhau. Ông được giới văn học xem như là người đã khai sinh ra phong trào Thơ mới, có nhiều đóng góp quan trọng trong việc chấn chỉnh và xây dựng nghệ thuật viết văn Quốc ngữ Việt Nam. Các tác phẩm tiêu biểu:
– Thơ cũ: Vịnh Thủy Hử, Chơi thuyền trên sông Tân Bình, Khai bút… – Thơ mới: Tình già, Hớt tóc, Nắng chiều, Hồng gai, Hai cánh trên xe hỏa. – Tập thơ: Chương Dân thi thoại. – Truyện ngắn: Đọc lệch giết lầm, Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi. – Tiểu thuyết: Trở vỏ lửa ra… |
Ở Tình già, người đọc không còn bắt gặp những ước lệ quen thuộc của thơ ca trung đại. Không còn những điển tích, những khuôn mẫu niêm luật chặt chẽ, thay vào đó là một giọng điệu tự nhiên, gần gũi, như lời kể chuyện. Nội dung bài thơ cũng gây bất ngờ bởi đó là câu chuyện tình yêu của hai con người đã qua tuổi trẻ – một đề tài rất “đời”, rất “người” – mà trước đó hiếm khi trở thành đề tài của thi ca. Khi nói về Tình già, Vũ Ngọc Phan không ca ngợi theo kiểu tôn vinh tuyệt đối, mà nhìn khá tỉnh táo. Ông coi đây là một bài thơ có ý nghĩa mở đầu hơn là đỉnh cao. Điểm mới nằm ở cách nói tự nhiên, ý tứ gần đời sống, chứ chưa phải ở nghệ thuật tinh luyện. Phan Khôi giống như người “gióng lên một tiếng chuông”, báo hiệu sự thay đổi.
Sự xuất hiện của Tình già đã tạo nên một cú sốc trên văn đàn, trở thành tâm điểm của tranh luận giữa thơ cũ và thơ mới. Ở phía ủng hộ đổi mới, nhiều cây bút trẻ và sau này là các nhà phê bình như Hoài Thanh đã nhìn nhận những thử nghiệm ấy như bước khởi đầu của một cuộc “giải phóng cái tôi”. Theo họ, thơ cần trở về với đời sống, với cảm xúc thật, thay vì lặp lại những khuôn mẫu ước lệ. Ngược lại, các học giả thiên về truyền thống như Phạm Quỳnh lại tỏ ra dè dặt. Họ lo ngại rằng sự phá bỏ niêm luật sẽ làm mất đi vẻ tinh luyện và trang nhã của thi ca cổ điển. Trên báo chí đương thời, không ít ý kiến còn phê phán thơ mới là kiểu “văn xuôi cắt dòng”. Báo chí thời ấy cũng bị lôi vào cuộc chiến với hai “phe” rõ rệt. Phe bênh vực thơ cũ có các báo An Nam tạp chí, Văn học tạp chí, Văn học tuần san, Công luận, Tiếng dân, Tin văn… Phe bênh vực thơ mới thì có Phong hóa, Ngày nay, Phụ nữ Tân văn, Tiểu thuyết Thứ bảy, Loa, Hà Nội báo… Trong số này, Báo Phong hóa là “mạnh miệng” nhất và nhóm Tự Lực Văn Đoàn vốn chủ trương theo cái mới dĩ nhiên đứng về phía hoan nghênh, ủng hộ.
Thực chất, đây không chỉ là tranh luận về thơ, mà là sự va chạm giữa hai quan niệm thẩm mỹ một bên đề cao khuôn phép, một bên đề cao tự do sáng tạo. Và chính từ những va chạm ấy, Thơ mới đã hình thành và phát triển mạnh mẽ, với những tên tuổi lớn như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…
Trần Ngọc Tuấn

Bình luận (0)