Phạm Minh Tâm
Phó Vụ trưởng Vụ Địa phương 3, BTGDVTW
Xã hội hóa giáo dục không đồng nghĩa với thương mại hóa hay tư nhân hóa. Đây là quá trình phân bổ nguồn lực hợp lý, khuyến khích người có điều kiện tự nguyện đóng góp cho các dịch vụ giáo dục chất lượng cao. Điều này giúp Nhà nước tập trung ngân sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn và các đối tượng yếu thế. Sự tham gia của các tập đoàn kinh tế tạo điều kiện cho việc du học tại chỗ, giảm thiểu thất thoát ngoại tệ và chất xám, đồng thời tạo động lực thúc đẩy hệ thống trường công lập tự đổi mới. Nhà nước chuyển từ vai trò “cung ứng duy nhất” sang “người cầm lái”, giám sát chặt chẽ chất lượng và tính minh bạch thông qua hệ thống pháp luật, đảm bảo sự phát triển của giáo dục theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tiếp cận mới về một nền giáo dục hiện đại
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhu cầu của người dân không còn dừng lại ở chỗ có trường để học mà đã nâng tầm thành học để hội nhập với khu vực, thế giới. Phụ huynh hiện nay mong muốn con em mình được tiếp cận với môi trường giáo dục thông minh, ngoại ngữ chuẩn quốc tế và kỹ năng số vượt trội. Đây là đòi hỏi chính đáng của một xã hội đang phát triển năng động.
Tuy nhiên, chúng ta cần nhìn thẳng vào một thực tế khách quan dù Đảng và Nhà nước luôn giữ vững cam kết dành ít nhất 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục, một tỷ lệ thuộc nhóm cao trên thế giới nhưng nguồn lực này vẫn có hạn. Ngân sách quốc gia đóng vai trò là đầu tàu để duy trì nền giáo dục phổ cập, xây dựng trường lớp ở vùng sâu, vùng xa và chăm lo cho các đối tượng gia đình chính sách. Nếu chỉ dựa vào ngân sách, chúng ta khó có thể đáp ứng cùng lúc mọi nhu cầu đa dạng và cao cấp của hàng triệu gia đình tại các đô thị lớn.
Từ đó, một mâu thuẫn tất yếu nảy sinh, làm sao để vừa giữ vững tính công bằng của giáo dục phổ thông, vừa kiến tạo được những mũi nhọn giáo dục tiệm cận quốc tế? Câu trả lời sẽ nằm ở góc độ xã hội hóa. Đây không phải là lựa chọn riêng của Việt Nam mà là xu thế toàn cầu. Tại các quốc gia có nền giáo dục phát triển như Anh, Mỹ hay Singapore, sự chung tay của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổ chức xã hội và cá nhân đã tạo nên những đại học và hệ thống trường học danh tiếng thế giới.

Theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW[1], xã hội hóa giáo dục chính là giải pháp đột phá để giải phóng sức sáng tạo của xã hội. Khi nguồn lực tư nhân tham gia vào phân khúc giáo dục chất lượng cao, ngân sách Nhà nước sẽ có điều kiện để tập trung đầu tư mạnh mẽ hơn cho những nơi còn khó khăn, để không một trẻ em nghèo nào bị bỏ lại phía sau. Vì vậy, xã hội hóa chính là con đường ngắn nhất để nâng tầm trí tuệ Việt Nam vươn tầm thế giới.
Xã hội hóa giáo dục là để công bằng hơn
Thời gian qua, trên không gian mạng và trong dư luận xã hội, bên cạnh sự đồng thuận, vẫn còn những luồng ý kiến trái chiều, thậm chí là những quan điểm hoài nghi, cho rằng xã hội hóa là “thương mại hóa”, là đẩy khó khăn cho số đông người dân. Với trách nhiệm của người từng có thời gian làm việc trong ngành giáo dục và hiện nay cũng có con đang theo học hệ thống giáo dục quốc dân, tôi xin chia sẻ góc nhìn như thế này:
Trăn trở về sự chia tách, phân hóa giàu – nghèo, một trong những định kiến phổ biến nhất hiện nay là lo ngại xã hội hóa sẽ tạo ra một sự phân tầng giáo dục sâu sắc, trường tư thục chỉ dành cho người giàu, còn trường công vốn đã quá tải sẽ dành cho phần đông người lao động còn khó khăn. Không ít người đặt câu hỏi: Liệu tính định hướng xã hội chủ nghĩa có còn được giữ vững khi giáo dục xuất hiện các phân khúc dịch vụ?
Chúng ta cần nhìn vào bức tranh tổng thể về nguồn lực quốc gia khi ngân sách Nhà nước dù đã ưu tiên dành 20% tổng chi cho giáo dục, nhưng trong một quốc gia hơn 100 triệu dân với nhiều thành phần trong xã hội, khu vực đồi núi, biên giới, điều kiện đi lại, sinh hoạt còn nhiều trở ngại, nguồn lực ấy không phải là vô tận. Nếu chúng ta dàn trải ngân sách để bao cấp cho tất cả mọi đối tượng, từ những gia đình có điều kiện kinh tế khá giả ở đô thị đến học sinh vùng cao, thì kết quả sẽ là sự cào bằng trong thiếu thốn.
Bản chất của xã hội hóa chính là một quá trình tái phân phối nguồn lực xã hội mang tính nhân văn sâu sắc. Khi chúng ta khuyến khích các gia đình có điều kiện tự nguyện lựa chọn và chi trả cho các dịch vụ giáo dục chất lượng cao ở khu vực tư nhân, chúng ta đã tạo ra một giúp giảm bớt áp lực cho ngân sách để tiếp tục san sẻ cho các lĩnh vực khác không kém phần cấp thiết.

Kinh phí cùng với quỹ đất, định biên giáo viên và trang thiết bị sẽ được Nhà nước tập trung toàn lực để dồn về vùng sâu, vùng xa, từng bước xây dựng những điểm trường khang trang tại biên giới, hải đảo; thực hiện lộ trình miễn học phí đến cấp trung học cơ sở; hỗ trợ bữa ăn trưa và chi phí sinh hoạt cho con em gia đình khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Như vậy, xã hội hóa tại đô thị chính là tiền đề để đảm bảo quyền được đi học của trẻ em nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Đây mới chính là sự công bằng thực chất của chế độ ta, công bằng ấy không dựa trên sự cào bằng, mà dựa trên nguyên tắc “Người có điều kiện đóng góp nhiều hơn để Nhà nước chăm lo tốt hơn cho người yếu thế”.
Góp phần đa dạng hóa loại hình học tập
Một mặt nào đó, sự phản kháng trước xã hội hóa thường đến từ tâm lý ngại thay đổi, sự hoài niệm về mô hình bao cấp cũ, nơi mọi thứ đều được định sẵn và an toàn. Nhiều người cho rằng chỉ có trường công mới là chuẩn mực, còn các loại hình khác chỉ là phụ trợ, thậm chí là không đáng tin. Tuy nhiên, tư duy này đang trở thành lực cản lớn nhất khi thị trường lao động toàn cầu đang biến chuyển từng ngày. Chúng ta phải thừa nhận một thực tế, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức thay đổi nhanh chóng đến mức giáo trình in ra đôi khi đã lạc hậu. Các trường công lập, với quy mô lớn và quy trình quản lý hành chính chặt chẽ, thường cần độ trễ nhất định để điều chỉnh nội dung đào tạo và định biên nhân sự. Trong khi đó, các cơ sở giáo dục ngoài công lập lại sở hữu lợi thế tuyệt đối về sự năng động và linh hoạt.
Các trường ngoài công lập hiện nay đóng vai trò như những “phòng thí nghiệm đổi mới sáng tạo”. Họ sẵn sàng bắt tay trực tiếp với các tập đoàn đa quốc gia để đào tạo những ngành nghề mà xã hội đang rất cần như Trí tuệ nhân tạo (AI), chíp bán dẫn, Logistics hay kinh tế số. Họ đào tạo kỹ năng mềm, ngoại ngữ chuẩn quốc tế ngay từ bậc mầm non, giúp học sinh Việt Nam thoát khỏi cảnh giỏi lý thuyết, yếu thực hành.
Sự năng động này tạo ra một áp lực tích cực, buộc các trường công lập cũng phải tự soi, tự sửa, đổi mới phương pháp giảng dạy để không bị tụt hậu. Đây chính là hệ sinh thái giáo dục mở mà Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị hướng tới một nền giáo dục đa dạng loại hình nhưng thống nhất về mục tiêu bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Sự thay đổi này không phải là mất đi tính định hướng, mà là tăng cường sức cạnh tranh cho giáo dục Việt Nam.
Vai trò giám sát của Nhà nước
Một luận điệu có phần cực đoan, cách nhìn phiến diện thường gặp là giáo dục tư nhân chỉ chăm chăm vào lợi nhuận, sẽ dẫn đến cảnh tiền nào của nấy, thậm chí lừa dối người học. Nỗi sợ về sự thương mại hóa lấn át giá trị sư phạm là có thật và cần được giải đáp bằng cơ chế pháp lý.
Đối với vấn đề này, chúng ta cần khẳng định đanh thép rằng xã hội hóa giáo dục không phải là tư nhân hóa, không phải là buông lỏng để mặc các cơ sở tự tung, tự tác. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước chuyển từ vai trò “người cung ứng duy nhất” sang vai trò “người kiến tạo và giám sát tối cao”.
Sự quản lý của Nhà nước hiện nay được thực thi thông qua vai trò Bộ Giáo dục và Đào tạo trong ban hành các quy chuẩn về diện tích trường lớp, trình độ giáo viên, chương trình đào tạo. Mọi cơ sở ngoài công lập đều phải trải qua các kỳ kiểm định định kỳ quốc gia và quốc tế. Cơ sở nào không đạt chuẩn sẽ bị đình chỉ tuyển sinh hoặc đóng cửa, đó là sự thực thi công lý để bảo vệ người học.
Mặt khác, Nghị định 81/2021/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn về các nội dung công khai, buộc các trường phải công bố minh bạch mức học phí, cam kết chất lượng và đội ngũ. Nhà nước kiểm soát chặt chẽ việc tăng học phí để đảm bảo tính phù hợp với sức chi trả và chất lượng cam kết. Nhà nước không đứng ngoài để thu thuế, mà luôn thường trực các công tác thanh tra, hậu kiểm. Những hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội hóa để lạm thu, trục lợi bất chính đều bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật, không có vùng cấm.
Như vậy, trong công tác quản lý giáo dục, Nhà nước không buông tay mà đang cầm lái. Và trong kỷ nguyên mới, sự cầm lái ấy không phải là gò ép, mà là tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho các nguồn lực chân chính phát triển, đồng thời loại bỏ những “con sâu làm rầu nồi canh”.
Sự tham gia có trách nhiệm của doanh nghiệp vào công tác giáo dục
Trong nhiều thập kỷ qua, một thực trạng đau lòng của giáo dục Việt Nam là tình trạng con em nhiều gia đình du học từ rất sớm. Hàng tỷ USD mỗi năm được các bậc phụ huynh chi trả để đưa con em sang các nước như Mỹ, Anh, Úc, Canada hay Singapore học tập ngay từ bậc phổ thông. Điều này không chỉ gây ra sự chảy máu ngoại tệ khổng lồ cho nền kinh tế mà còn tiềm ẩn nguy cơ chảy máu chất xám, thất thoát nguồn nhân lực khi những nhân tài trẻ tuổi sớm thích nghi với môi trường học tập, sinh hoạt nước ngoài và ít có xu hướng quay về phụng sự quê hương.
Gần đây, sự xuất hiện của các tập đoàn lớn như Vingroup (Vinschool, VinUni), FPT (Hệ thống giáo dục FPT) hay các tập đoàn giáo dục chuyên nghiệp như Nguyễn Hoàng, TH School đã thay đổi hoàn toàn cục diện này. Họ mang đến một tư duy mới về Du học tại chỗ. Thay vì phải sang bên kia bán cầu, học sinh Việt Nam nay có thể tiếp cận chương trình Cambridge, Tú tài quốc tế (IB) hay các chứng chỉ nghề nghiệp của Google, Microsoft ngay tại Hà Nội, TP.HCM hay Đà Nẵng. Các trường đại học như VinUni hay FPT không chỉ đầu tư vào những tòa nhà hiện đại mà còn đầu tư vào đội ngũ giảng viên tinh hoa từ khắp thế giới. Điều này giúp giữ lại hàng tỷ USD trong vòng quay kinh tế nội địa, tạo ra hàng ngàn việc làm cho lao động có hàm lượng chất xám cao trong nước.
Quan trọng hơn cả vấn đề kinh tế, việc học tập tại các cơ sở xã hội hóa chất lượng cao trong nước giúp học sinh, sinh viên giữ vững bản sắc văn hóa và lòng tự hào dân tộc. Các em được tiếp thu tinh hoa thế giới nhưng vẫn hiểu rõ thực tiễn đất nước, từ đó hình thành khát vọng cống hiến thay vì tư duy rời bỏ. Đây chính là sự đầu tư cho tương lai bền vững của quốc gia mà ngân sách Nhà nước, dù rất nỗ lực, cũng khó có thể tạo ra sự bứt phá nhanh chóng như khối tư nhân.
Tại các tỉnh, thành phố phía Nam, đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh luôn là điểm nóng về gia tăng dân số cơ học[2]. Áp lực lên hệ thống trường công lập mỗi mùa tuyển sinh là cực kỳ khủng khiếp. Nếu không có sự hiện diện của hệ thống giáo dục ngoài công lập, chúng ta sẽ đứng trước một cuộc khủng hoảng thực sự về chỗ học. Các trường dân lập chất lượng cao đã và đang đóng vai trò giảm tải cần thiết cho hệ thống công lập.
Các trường quốc tế và dân lập chất lượng cao chính là thỏi nam châm thu hút nhà đầu tư. Một tập đoàn đa quốc gia sẽ không yên tâm rót vốn nếu các chuyên gia của họ không tìm được môi trường giáo dục tốt cho con cái tại địa phương. Do đó, xã hội hóa giáo dục ở khu vực phía Nam không chỉ là chuyện dạy và học, mà là một mắt xích quan trọng trong chiến lược thu hút FDI và phát triển kinh tế vùng.
Thực tế cũng cho thấy có sự cạnh tranh cùng phát triển rất tích cực. Để giữ chân học sinh trước làn sóng trường tư hiện đại, nhiều trường công lập tại TP.HCM đã quyết liệt đổi mới, đẩy mạnh mô hình Trường tiên tiến, hội nhập. Sự giao thoa này khiến chất lượng giáo dục mặt bằng chung được nâng lên rõ rệt. Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhưng có thêm những người bạn đồng hành năng động cùng gánh vác trách nhiệm nặng nề trước Nhân dân.

Hãy nhìn vào hàng ngàn suất học bổng tài năng từ các trường tư thục dành cho con em gia đình khó khăn nhưng học giỏi. Hãy nhìn vào những ngôi trường công lập được xây mới bằng nguồn vốn xã hội hóa, những chương trình “Sóng và máy tính cho em” được các tập đoàn lớn tài trợ trong đại dịch. Tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, vào tháng 3/2026, tỉnh Đồng Tháp đã tổ chức khởi công xây dựng 6 điểm trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền[3]. Các điểm trường cho thấy sự đóng góp không nhỏ của doanh nghiệp từ nguồn xã hội hóa. “Việc đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp mang ý nghĩa hết sức quan trọng và lâu dài. Đây thật sự là môi trường giáo dục toàn diện, nơi các em học sinh được nuôi dưỡng, rèn luyện và phát triển trong điều kiện tốt hơn; là cơ hội để học sinh vùng biên được tiếp cận tri thức một cách bền vững, công bằng. Mô hình trường nội trú liên cấp còn góp phần ổn định dân cư, tạo “điểm tựa an sinh” vững chắc, giúp bà con yên tâm lao động sản xuất, gắn bó với quê hương, qua đó góp phần giữ vững quốc phòng – an ninh khu vực biên giới”, theo ông Huỳnh Minh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp nhấn mạnh. Nếu không có sự chung tay này, Nhà nước sẽ phải mất hàng chục năm nữa mới có thể hiện đại hóa hạ tầng giáo dục tại những vùng sâu, vùng xa.

Hiện nay, tỷ lệ học sinh theo học tại các cơ sở ngoài công lập ở các đô thị lớn đang tăng trưởng ổn định. Mỗi một học sinh lựa chọn trường tư là một suất học tại trường công được nhường lại cho con em những gia đình lao động nghèo, những công nhân tại các khu chế xuất. Đây là minh chứng rõ nhất cho sự điều tiết nguồn lực, khi mà người có điều kiện tự chi trả để Nhà nước dành nguồn lực cho người yếu thế hơn.
Xã hội hóa giáo dục không phải là một giải pháp tình thế, mà là một chủ trương mang tính chiến lược, nhất quán và đầy bản lĩnh của Đảng và Nhà nước ta
Đi xuyên qua những luận cứ về kinh tế, pháp lý và những minh chứng sống động từ thực tiễn, chúng ta có thể khẳng định một cách tự tin rằng đây là con đường tất yếu để Việt Nam thực hiện cú nhảy vọt về chất lượng nguồn nhân lực, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc vì:
Thứ nhất, giáo dục vẫn luôn là quốc sách hàng đầu. Việc đẩy mạnh xã hội hóa không hề mâu thuẫn với tính chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Ngược lại, nó chính là công cụ để cụ thể hóa “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng” trong lĩnh vực giáo dục. Chủ trương xã hội hóa là minh chứng cho sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với mọi tầng lớp Nhân dân. Nhà nước khuyến khích người có điều kiện đóng góp nhiều hơn để dành nguồn lực ngân sách hạn hẹp bảo trợ cho con em lao động nghèo, học sinh vùng sâu, vùng xa được yên tâm đến trường. Đó không phải là sự phân hóa, mà là sự điều tiết mang tính nhân văn sâu sắc, đảm bảo công bằng cơ hội khởi đầu cho mọi trẻ em Việt Nam, dù các em sinh ra ở thành thị hay nông thôn, ở đồng bằng hay nơi biên giới.
Thứ hai, sự đồng thuận là sức mạnh của sự thay đổi. Để chủ trương này thực sự phát huy tối đa hiệu quả, chúng ta cần một sự chuyển dịch mạnh mẽ về tư duy từ phía người dân và toàn xã hội.
Đối với mỗi người dân, cần một cái nhìn khách quan, công tâm và đa chiều hơn trước các mô hình giáo dục mới. Đừng để những định kiến về bao cấp hay những thông tin sai trái, xuyên tạc trên mạng xã hội che mờ đi những lợi ích thực chất mà xã hội hóa mang lại. Hãy hiểu rằng, sự hiện diện của một ngôi trường tư thục chất lượng cao không phải là để chiếm chỗ của trường công, mà là để tạo ra thêm sự lựa chọn, tạo ra áp lực đổi mới để cả hệ thống cùng đi lên. Sự ủng hộ của phụ huynh đối với các mô hình giáo dục hiện đại chính là sự đầu tư bền vững nhất cho tương lai của thế con em mình.
Đối với các cơ quan quản lý, sự tin tưởng của Nhân dân chỉ được củng cố khi tính minh bạch được đặt lên hàng đầu. Các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương cần tiếp tục rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính rườm rà, thực sự coi nhà đầu tư giáo dục là những đối tác chiến lược. Cần có thêm nhiều chính sách ưu đãi về thuế, quỹ đất và cơ chế hợp tác công – tư (PPP) rõ ràng để thu hút nguồn lực, những nhà đầu tư có tâm, có tầm, coi giáo dục là sự nghiệp phụng sự chứ không đơn thuần là lĩnh vực kinh doanh thuần túy.
Thứ ba, niềm tin vào tương lai. Giáo dục chính là đòn bẩy mạnh mẽ nhất để nâng tầm đất nước. Khi mỗi người thấu hiểu, chia sẻ, là một chủ thể tham gia xây dựng, chúng ta sẽ tạo ra một sức mạnh cộng hưởng to lớn. Việc bảo vệ chủ trương xã hội hóa giáo dục chính là bảo vệ quyền được học tập trong môi trường tốt nhất của thế hệ trẻ, bảo vệ tương lai bền vững của đất nước.
Như vậy, từ sự thấu hiểu, quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước, năm học 2025 – 2026, cả nước đã chính thức miễn học phí cho học sinh phổ thông công lập (bao gồm tiểu học, THCS, THPT), góp phần giảm gánh nặng tài chính và nâng cao công bằng trong giáo dục[4]. Cùng với đó, những ngôi trường mọc lên từ sức dân và lòng dân trở thành những đài hoa tri thức, góp phần đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.
…………………………
[1] Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
[2] Theo định hướng, TP.HCM đặt mục tiêu đạt 300 phòng học/10.000 dân trong độ tuổi đi học. Tuy nhiên, sau sáp nhập ba đơn vị hành chính gồm TP.HCM, Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu, con số này hiện chỉ đạt 277 phòng học. Áp lực này làm gia tăng sĩ số vượt chuẩn, kéo theo tỷ lệ học sinh được học hai buổi mỗi ngày sụt giảm. Tình trạng này thể hiện rõ rệt nhất tại các địa bàn đang đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều khu công nghiệp có tốc độ gia tăng dân số cơ học cao như khu vực tỉnh Bình Dương cũ.
[3] Phổ thông nội trú Tiểu học – Trung học cơ sở Tân Hồng, Tân Hộ Cơ, Tân Thành, Thường Phước, Thường Thới Hậu và Hồng Ngự.
[4] Ước tính tổng kinh phí để thực hiện chính sách miễn và hỗ trợ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết lớp 12 trên cả nước từ ngày 01/9/2025 là 30.000 tỉ đồng. Trong đó, khối công lập là 28,7 ngàn tỉ đồng; khối dân lập, tư thục là 1,9 ngàn tỉ đồng.
******************
Tài liệu tham khảo:
– Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
– Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 04/6/2019 của Chính phủ về tăng cường huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019 – 2025.
– Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019, hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020.
– Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
– Nghị quyết số 217/2025/QH15 của Quốc hội về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
– Văn kiện Đại hội XIII, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Bình luận (0)