![]() |
1. Về chuyện ăn Tết, Nguyễn Hiến Lê, trong hồi ký của mình, đã kể nhiều chuyện sinh động. Những câu chuyện này ít nhiều phản ánh một tập quán ăn Tết xưa của người Việt, nhất là ở miền Bắc. “Năm nào, gần Tết, người (cha của Nguyễn Hiến Lê) cũng ham mê gọt thủy tiên và săn sóc (ngắt lá) hai gốc đào trồng trong khu sân nhỏ sau lưng nhà thờ… Thủy tiên thì năm nào cha tôi cũng mua một giỏ con của tiệm Hoa kiều phố hàng Buồm, đem về gọt, 30 Tết lựa hai cái cốc thủy tinh có chân như cốc champange, miệng lớn bằng bàn tay xòe ra, một cốc màu hồng, một cốc không màu. Giò thủy tiên đặt trong những cốc đó thật vừa khít, mà nhìn qua thành thủy tinh thấy rõ những rễ trắng muốt của hoa. Ai tới chơi cũng trầm trồ khen và bảo không thấy nhà nào khác có thứ cốc đó”(1). Có thể thấy đây là thú chơi tao nhã, khá phổ biến của các văn nhân, những người thuộc bậc có học trong xã hội bấy giờ (đầu thế kỷ XX) – cha và các bác của Nguyễn đều là các nhà Nho, trong đó có 2 người tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Và cũng chỉ những người thuộc lớp trung lưu (khá giả) mới có thể chơi được bởi nó vừa đắt vừa tốn thì giờ chăm chút.
Theo kinh nghiệm của nhiều người, chơi thủy tiên là “đệ nhất thanh tao” nhưng rất khó thành. Người nào giỏi thì 10 năm cũng chỉ “thắng” (hoa nở đúng dịp Tết) được 7-8 năm, còn không thì chỉ 2-3 năm thôi.
2. Từ lâu, dân gian vẫn có từ “ăn Tết” để chỉ sự thụ hưởng những ngày cuối năm cũ và đầu năm mới sau một năm lao động vất vả. Ngày xưa, dẫu “miếng ăn là miếng tồi tàn” nhưng nhu cầu ăn vẫn là cái mà hầu hết mọi người phải vất vả tìm kiếm. “Được bữa hôm lo bữa mai” là vậy. Năm nào lúa ví đầy bồ, gạo đầy mấy khạp sành, ngoài vườn còn khoai sắn có thể thu hoạch được thì coi như năm đó sung túc; nhà nào thường xuyên được vậy thì coi như là khá giả. Mẹ tôi hay kể, hồi năm đói sau giải phóng, đến giáp Tết, bà ngoại tôi quảy thúng đi khắp nơi gánh về được hai thúng khoai lang đã phấn khởi nói: Năm nay ăn Tết khá…
Với nhiều người, “ngày 30 Tết thịt treo trong nhà”, đó là một sự “tiên đoán” của tay thầy bói “ra ma”; tức là, dù ai giàu nghèo gì ngày Tết cũng có nồi thịt heo kho Tàu, thịt ướp muối sả treo trên giàn bếp, hay thịt gà, thịt vịt làm sẵn để đãi khách. Bởi vì, qua một năm nhọc nhằn, chẳng lẽ không cố có ít thịt trong nhà để cúng gia tiên, để mời lối xóm và nhất là “tự thưởng” cho mình suốt 12 tháng “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”…
Không chỉ vậy, ngày Tết ngoài “thịt mỡ” còn có “dưa hành”. Trong Nam thường ăn bánh tét với dưa giá, củ kiệu muối chua; ngoài Bắc lại chuộng bánh giò bánh chưng với vài thứ rau cải muối mặn. Ngoài ra, còn có nhiều thứ bánh như bánh ít, bánh phồng, bánh tráng, bánh in, bánh đậu xanh…; các loại mứt như mứt dừa, mứt bí, mứt khoai, mứt hạt sen, mứt gừng… Dĩ nhiên, hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương… luôn là món “khai vị”, vừa vui miệng, vừa mang dấu ấn đặc biệt của ngày Tết.
Trong Nam vào dịp Tết thường không có nhiều trái cây nhưng cũng vẫn có xoài, quýt, vú sữa, đu đủ… Dĩ nhiên, dừa tươi thì nhà nào cũng có sẵn, không chỉ để “cầu vừa đủ xài” mà còn để giải khát trong những ngày Tết thường bị rượu “hâm nóng”.
Trong ký ức tuổi thơ nhiều người chắc chưa quên những tiếng “thậm… thình” giã nếp, giã khoai mì để làm bánh phồng, những chiếc chiếu phủ những chiếc bánh tròn phơi trước giậu râm bụt… Ta nhớ lại một thời ta “ăn Tết” với niềm háo hức, say sưa, dù rằng cái “ăn” của ngày nào cũng còn đơn giản, dân dã hơn bây giờ rất nhiều.

3. Không chỉ có ăn, người ta còn chơi Tết. Dân gian còn lưu lại các câu vè về chơi Tết:
Năm mới thì phải ăn chơi/ Người nào thảnh thơi/ Thì chơi gà đá/ Em nhỏ chơi vòng bài pháo/ Mấy người hết áo/ Bị những bài cào/ Bắt kẻ mượn rào/ Là người say rượu/ Mấy người cố cựu/ Đặt chuyện cười chơi/ Trồng chuối ngược đời/ Trèo lên tụt xuống…
Với cách chơi Tết này có lẽ là người Nam bộ, thể hiện tính phóng khoáng, cởi mở!
Thời gian nghỉ dài nhất trong năm này thường trùng với đợt giãn ra giữa hai mùa vụ nên đồng áng khá thư thả. “Tháng giêng là tháng ăn chơi” mà! Thanh nhã thì có viết liễn với những câu đối đỏ bằng chữ Nho. Bây giờ còn có thêm viết thư pháp chữ Việt. Những câu răn dạy, nhắc nhở mọi người sống có nghĩa có tình, thủy chung, hiếu đễ thường được mọi người treo trang trọng ở gian giữa trong nhà. Nghệ thuật thư pháp thường chú ý mấy chữ “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”… để cầu năm mới mọi điều tốt lành đều tấn tới.
Không chỉ chơi chữ, các kiểu hoa kiểng cũng mang “thế” của những chữ này hoặc ít ra cũng mang ý nghĩa tương tự. Sung, mai… được tạo thành những dáng đẹp, chăm chút để nở hoa đúng ngày Tết nhưng vẫn tạo được dáng thanh thoát, ý nhị… Ngày trước, nhiều gia đình còn treo tranh “tứ bình”. Không giống với nguyên nghĩa là bộ tranh bốn bức có hình chữ nhật dài, khổ bằng nhau, thường vẽ phong cảnh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, dùng treo song song đối xứng với nhau, ở nhiều nơi, tranh “tứ bình” gồm 4 bức vẽ kể tóm tắt các câu chuyện luân lý, như Thạch Sanh – Lý Thông, Phạm Công – Cúc Hoa, Lâm Sanh – Xuân Nương… Ở nông thôn xưa, treo những tấm tranh xanh đỏ là sự tô điểm sinh động đồng thời có ý nghĩa giáo dục cao. Đối với lũ trẻ, những tấm tranh nhiều màu sắc luôn rất hấp dẫn. Tôi thường dán mắt vào những cảnh ông Mẫn Tử Khiên mùa lạnh mặc áo rách kéo xe cho cha; ông Mạnh Tông đang đông khóc măng cho mẹ; bà Tào Thị cầm roi đuổi đánh anh em Nghi Xuân – Tấn Lực; mẹ con Lý Thông trốn về quê nhưng bị trời đánh chết… Chỗ nào không biết, tôi hay hỏi ngoại – bà tuy không biết chữ nhưng chuyện gì tôi hỏi ngoại đều trả lời rành rọt.
“Máu me” hơn là có đá gà, lắc bầu cua, đánh bài… Ở góc độ văn hóa, đá gà là một thú chơi dân gian độc đáo, tuy nhiên khi bị người ta lợi dụng để trở thành một môn cờ bạc sát phạt lẫn nhau.
Ở nông thôn, Tết thường có các hội chợ, vừa trưng bày sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ vừa có các trò chơi dân gian. Lô tô, thả bọ, ném cổ vịt, thảy vòng… đều là những môn chơi hấp dẫn, hồi hộp, vui nhộn. Tuy nhiên, càng về sau các trò chơi này ngày càng biến tướng thành những thủ thuật lừa lọc mang tính cờ bạc, ít còn tính giải trí thuần túy như xưa.
4. Bây giờ, người ta vẫn còn dùng từ “ăn Tết”. Tết thì phải có ăn, dĩ nhiên ăn nhiều hơn và ngon hơn ngày thường. Tuy nhiên cái ăn bây giờ cũng đã khác nhiều. Không còn cảnh các mẹ các dì lục đục chuẩn bị làm bánh, làm mứt như trước; cũng không còn cảnh các chú các anh vật heo, giết bò chia nhau trong xóm để dành ăn Tết như ngày nào… Tất cả đều có thể ra chợ mua. Ngay trong mồng một Tết vẫn có người buôn bán chứ không nghỉ đến chiều mồng ba Tết như ngày trước. Công nghiệp hóa, chuyên môn hóa ít nhiều làm mất đi tính truyền thống của văn hóa nông nghiệp nhưng lại tiện lợi, kinh tế hơn nhiều.
Người ta vẫn còn “chơi Tết”. Nhưng nhiều cái chơi bây giờ được tổ chức quy củ, đảm bảo tính văn hóa, tính thẩm mỹ. Những thú chơi tao nhã như viết câu đối, viết thư pháp, văn nghệ, chưng tỉa hoa kiểng… vẫn được giữ lại; các trò chơi mang tính cờ bạc thì bị nghiêm cấm. Cái chơi bây giờ được chuyển thành đi thăm thú bà con xa, đi du lịch, vì cả năm bận rộn không có thì giờ đi lại. Điều này khác nhiều so với trước đây, ngày Tết vốn thường chỉ ở nhà tiếp khách và đi thăm viếng họ hàng gần mà thôi.n
ThS. Nguyễn Minh Hải
(1) Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn nghệ, năm 2001, trang 42 – 43.


Bình luận (0)