Trong dòng chảy văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX, “thi sĩ thứ thiệt” (chữ của Nguyễn Tuân) Tản Đà hiện lên như một nhân vật đặc biệt. Ông không chỉ là một nhà thơ tài hoa mà còn là người dám sống chết với nghề viết, trong một thời đại mà làm thơ, viết văn chưa phải là một “nghề” mưu sinh đúng nghĩa.

Bởi vậy, khi mà Xuân Diệu gọi ông là “người thứ nhất đủ bản lĩnh làm thi sĩ”, thì đó không chỉ là lời tôn vinh tài năng, mà còn là sự ghi nhận một nhân cách văn chương, “một hiện tượng đột xuất, vừa độc đáo, vừa dồi dào năng lực sáng tạo” (Nguyễn Huệ Chi, Từ điển Văn học, bộ mới, NXB Thế Giới, 2003, tr.1591).
Dấn thân làm báo, in sách dẫu rất nhiều khó khăn
Nguyễn Khắc Hiếu (tức Tản Đà, bút danh này gộp từ địa danh núi Tản Viên và sông Đà) sinh năm 1889 trong một gia đình nhà nho. Ông lớn lên trong bầu không khí khoa cử Nho học. Con đường thông thường của một trí thức thời ấy là dùi mài kinh sử, đỗ đạt rồi ra làm quan. Nhưng thi cử lận đận và quan trọng hơn, thời thế đã đổi thay, Nho học suy tàn, Tây học nổi lên, xã hội chuyển mình. Giữa bước ngoặt ấy, Tản Đà không cố níu một danh phận cũ. Ông không quay lại con đường quan lộ, cũng không tìm một nghề nghiệp ổn định trong guồng máy mới. Ông chọn văn chương: “Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng”. Lựa chọn ấy ở đầu thế kỷ XX gần như đồng nghĩa với chấp nhận bấp bênh, dù trong thâm tâm vẫn còn nghi ngại: Mười mấy năm xưa ngọn bút lông/ Xác xơ chẳng bận chút hơi đồng/ Bây giờ anh đổi lông ra sắt/ Cách kiếm ăn đời có nhọn không? (Thuật bút, Khối tình con, II, tr.8, dẫn theo Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan). Tản Đà đã “đánh cược” đời mình vào chữ nghĩa. Đó là bản lĩnh đầu tiên.
Khi sáng lập và điều hành An Nam tạp chí (ra đời năm 1926), Tản Đà không chỉ là nhà thơ mà còn là người làm báo thực thụ. Ông viết, biên tập, tổ chức in ấn, lo phát hành. Nhưng tờ báo nhiều phen lao đao vì tài chính. Số phát hành không ổn định, quảng cáo hiếm hoi, tiền in ấn chồng chất. Có giai thoại kể rằng ông phải vay mượn, thậm chí cầm cố tài sản để duy trì tờ báo. Người thân can ngăn, bạn bè lo lắng, nhưng ông vẫn cố giữ lấy diễn đàn tinh thần ấy. Đối với Tản Đà, báo chí không đơn thuần là phương tiện kiếm sống, mà là nơi thi sĩ cất tiếng nói trước thời đại.
Cuối cùng, tờ báo cũng phải đình bản. Nhưng sự thất bại tài chính ấy không làm ông từ bỏ văn chương. Trái lại, nó càng cho thấy một điều là chấp nhận thiệt thòi vật chất để giữ tự do sáng tạo: “Công danh sự nghiệp mặc đời/ Bên thời be rượu, bên thời bài thơ” (1935). Âu đó cũng là bản lĩnh thứ hai của Tản Đà.
Nghèo nhưng không… bán rẻ thi ca!
Tản Đà từng sống trong cảnh túng thiếu, ly biệt như chính ông tự thú trong bài Thú ăn chơi: “Giời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa nhà thời không/ Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông/ Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly…” (dẫn theo thivien.net). Hà Nội những năm 1930 không phải là nơi dễ kiếm sống cho một nhà văn tự do. Ông viết thuê, dịch thuật, cộng tác báo chí để có thu nhập. Nhưng theo nhiều hồi ức, ông không chấp nhận viết những thứ rẻ tiền chỉ để chiều thị hiếu thấp kém.
Cái “ngông” của Tản Đà thực ra là một cách giữ phẩm giá. Ông ý thức sâu sắc về tài năng của mình. Trong bài Hầu trời, ông kể chuyện lên trời đọc thơ cho Trời nghe, được Trời khen ngợi và hỏi han. Đằng sau giọng điệu tưởng như ngạo nghễ ấy là một tâm thế cô đơn, thi sĩ không tìm được tri âm nơi trần thế, đành gửi thơ lên tận cung mây: “Đọc hết văn vần sang văn xuôi/ Hết văn thuyết lý lại văn chơi/ Đương cơn đắc ý đọc đã thích/ Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi… Bẩm con không dám man cửa Trời/ Những áng văn con in cả rồi/ Hai quyển Khối tình văn thuyết lý/ Hai Khối tình con là văn chơi/ Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết/ Đài gương, Lên sáu văn vị đời/ Quyển Đàn bà Tàu lối văn dịch/ Đến quyển Lên tám nay là mười…”. Đó không chỉ là những câu thơ. Mà đó là tuyên ngôn nghề nghiệp. Người dám viết như vậy phải là người tin tuyệt đối vào giá trị sáng tạo của mình. Và đó cũng là bản lĩnh thứ ba của người tự xưng với Trời: “Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn/ Quê ở Á châu về Địa cầu/ Sông Đà núi Tản nước Nam Việt” (Hầu trời).
Người làm “cầu nối” giữa hai thời đại
| Xuân Diệu nhìn thấy ở Tản Đà không chỉ là tiền bối, mà là người mở đường, là “người thứ nhất đủ bản lĩnh làm thi sĩ” bởi lẽ Tản Đà đã dám dấn thân, dám thất bại, đã trả giá… để thế hệ sau có thể tự tin đi xa hơn. |
Tản Đà sống trong giai đoạn giao thời khi Nho học tàn lụi dần và Tây học đang phôi phai, thai nghén. Ông vừa làm thơ Đường luật, vừa viết quốc ngữ; vừa giữ phong vị cổ điển, vừa thấm đẫm cảm xúc cá nhân phương Tây. Vì thế mà Hoài Thanh đã khái quát vị trí của ông: “Anh em ở đây, tuy người trước kẻ sau, nhưng ai nấy đều là con đầu lòng của thế kỷ hai mươi. Trên hội Tao đàn, chỉ tiên sinh là người của hai thế kỷ. Tiên sinh sẽ đại biểu cho một lớp người để chứng giám công việc lớp người kế tiếp” (Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2002, tr.15). Ở Tản Đà, cái tôi cá nhân đã bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ sau những trở mình của các nhà thơ trung đại, như Tú Xương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… Chính điều ấy khiến Tản Đà trở thành “chiếc cầu nối” giữa thơ cũ và phong trào Thơ mới. Nếu không có một Tản Đà dám khẳng định cái tôi, dám sống bằng nghề thơ, liệu thế hệ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… có thể xuất hiện với tư thế tự tin như thế?
Xuân Diệu nhìn thấy ở Tản Đà không chỉ là tiền bối, mà là người mở đường, là “người thứ nhất đủ bản lĩnh làm thi sĩ” bởi lẽ Tản Đà đã dám dấn thân, dám thất bại, đã trả giá… để thế hệ sau có thể tự tin đi xa hơn. Và đó là bản lĩnh thứ tư của Nguyễn Khắc Hiếu.
Đủ bản lĩnh để… chết trong nghèo khó
Năm 1939, Tản Đà qua đời trong hoàn cảnh không giàu sang về vật chất. Nhưng ông ra đi với tư cách một thi sĩ trọn vẹn. Ông không thành quan, không thành doanh nhân, không nương tựa quyền lực. Ông chỉ là một người làm thơ – và đã sống hết mình vì thơ. “Đủ bản lĩnh làm thi sĩ” vì thế không chỉ là lời khen về tài năng mà là lời khẳng định về một nhân cách: dám chọn, dám chịu, dám giữ mình giữa sóng gió thời đại. Tản Đà có thể nghèo, có thể lận đận, có thể nhiều phen thất bại trong đời sống thực tế. Nhưng trong lịch sử thi ca, ông đã thắng. Ông thắng vì đã sống đúng với điều mình tin tưởng: thơ ca là lẽ sống. Và có lẽ, với một thi sĩ, thế là đủ!
Cách nhìn trên đã được Xuân Diệu đánh giá khá xác đáng: “Tôi nghĩ rằng thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã sống một cuộc đời phong phú, lý thú: Người ta hơn tớ cái phong lưu/ Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo. Biết hơn người cái sự nghèo, cho nên có thể hơn người về việc đã để lại những bài thơ hay… Tản Đà đã được, được nhiều” (Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập 2, NXB Văn học, Hà Nội, 1987, tr.395). Và đây cũng là bản lĩnh lớn nhất của cuộc đời thi sĩ thứ thiệt Tản Đà.
Trần Ngọc Tuấn

Bình luận (0)