Theo từ điển học, “cảm thức” được hiểu là một trạng thái tâm lý được cảm nhận qua trải nghiệm mang tính biểu cảm, sâu sắc và liên quan đến thiên nhiên, cảnh vật hoặc sự kiện sống. Nó thường được dùng để mô tả sự thay đổi nội tâm khi tiếp xúc với một sự kiện hoặc đối tượng…

Mùa xuân từ lâu là biểu tượng đẹp trong văn học phương Đông, vì nó là khởi đầu, là sống động, sự tuần hoàn và lạc quan. Vì vậy trong thơ trung đại Việt Nam, mùa xuân không chỉ là cảnh sắc mà còn là cảm thức của các thi nhân, phản chiếu tâm thế vui buồn, thế sự, nhân sinh, lý tưởng và cả thân phận con người.
Cơ sở hình thành cảm thức mùa xuân trong thơ trung đại
Có ít nhất ba cơ sở chính làm nền cho việc khởi phát cảm thức về mùa, trong đó có mùa xuân, của các thi nhân xưa. Đầu tiên phải kể đến sự tác động của tư tưởng tam giáo đồng nguyên (đồng quy) Nho – Phật – Lão. Các triết thuyết này dù không xem thời gian như một khái niệm theo cách của khoa học vật lý hiện đại, song đằng sau nó ẩn chứa về quan niệm thời gian. Đó là một phạm trù tuần hoàn, gắn liền với thế giới vô thường, là hòa hợp giữa con người với thiên nhiên vạn vật.
Thi nhân trung đại coi thời gian là một phạm trù thẩm mỹ, là nguồn thi hứng và cả thi liệu sáng tác. Bởi bút pháp thơ cổ được các nhà lý luận cho là gắn liền với thi pháp ước lệ tượng trưng. Cho nên, thiên nhiên, thời gian mùa xuân trở thành nguồn thi liệu bất tận: quy luật xuân – hạ – thu – đông; đào khai, mai nở, én liệng thiên không, đông phong phơi phới… Thêm nữa, quan niệm nghệ thuật thời trung đại thường là “tả cảnh ngụ tình”; giao cảm của con người thì triết lý tam tài (thiên – địa – nhân); cho nên mùa xuân luôn phản chiếu tâm trạng thi nhân với nguồn cảm hứng đặc biệt. Thật khó nói hết cảm thức của thi nhân xưa về mùa xuân, dưới đây chỉ là những nét chấm phá.
Cảm thức mùa xuân tươi sáng, thanh bình và hòa hợp thiên nhiên
Thi ca Lý – Trần đã từng một thời “vàng son” về triết thuyết thiền tông cảm thức. Các thiền sư thời kỳ này đã đem đến nhiều cảm thức mùa xuân về đời người, thế sự đầy sự nhập cuộc, trách nhiệm, tươi sáng, thanh bình như thiền sư Không Lộ, thiền sư Mãn Giác… Vua Trần Nhân Tông có bài thơ trong trẻo, yêu đời: “Thụy khởi khải song phi/ Bất tri xuân dĩ quy/ Nhất song bạch hồ điệp/ Phách phách sấn hoa phi”. Dịch thơ: “Ngủ dậy, ngỏ song mây/ Xuân về, vẫn chửa hay/ Song song đôi bướm trắng/ Phấp phới sấn hoa bay” (Xuân hiểu).
Xuân trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có gió nhẹ, cỏ non, suối trong. Mùa xuân biểu tượng cho sự hồi sinh tâm hồn, sự ung dung của bậc hiền triết. Sau khi giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi có lúc đã tìm chốn nhàn dật “kiếm con thuyền nhỏ mà về câu xuân ở Ngũ Hồ” (Mạn thành 1). Có khi Ức Trai mở cửa cho hoa xoan, hoa bưởi bước vào thư sách: “Nhàn trung tận nhật bế thư trai/ Môn ngoại toàn vô tục khách lai/ Ðỗ vũ thanh trung xuân hướng lão/ Nhất đình sơ vũ luyện hoa khai” (bài Mộ xuân tức sự). Dịch thơ: “Cả ngày nhàn rỗi đóng cửa phòng sách/ Không có khách tục nào bước tới cửa/ Nghe tiếng cuốc kêu biết ngày xuân đã muộn/ Một sân hoa xoan nở trong màn mưa bụi”.

Còn với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì mùa xuân tượng trưng cho nhàn dật, “tri túc”, hòa mình vào trời đất của lối sống thoát tục, hiền triết, thanh cao, lọc sạch bụi trần. Đó là cảnh mai nở, quế thơm, tiếng chim líu lo hót. Mùa xuân gắn với đạo sống ẩn sĩ: “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá/ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao” (Nhàn).
Cảm thức mùa xuân thấm đẫm nỗi buồn và hừng hực khí thế canh tân
Với vài nét chấm phá, Nguyễn Du trong Truyện Kiều ngầm tả mùa xuân đẹp nhưng nhanh trôi, chóng vội, mong manh phận người “Ngày xuân con én đưa thoi…”, và cũng có cái gì đó của sự rợn ngợp, đầy xúc cảm: “Cỏ non xanh tận chân trời…”. Thơ chữ Hán của Thanh Hiên phảng phất nỗi cô liêu, hoài cảm về lẽ đời trong mùa xuân. Hầu hết cuộc đời Nguyễn Du sống trong cảnh cơ hàn, vì thế thơ về mùa xuân của Tố Như rất buồn, nhuốm màu thế sự. Trong bài Xuân nhật, Nguyễn Du viết: “Xa quê lại một năm ly biệt/ Ðất khách thêm mùa xuân của ai/ Cỏ biếc lòng đau trời Nam phố/ Mai vàng chi nữa chúa Xuân ơi!”. Công danh như mây nổi bèo trôi, các triều đại mau chóng thay nhau, Nguyễn Du trở nên chán chường, thậm chí có khi bế tắc, nên nhìn mùa xuân cũng khác: “Cõi thế công danh chim cánh lướt/ Sân nhàn thời tiết bóng oanh bay/ Xét thân không thoát vòng sinh hoại/ Lo mãi làm chi cuộc sống này…” (Cuối xuân cảm hứng). Tuy vậy, với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã để lại cho văn học Việt Nam nhiều bức tranh xuân tuyệt đẹp.
Người giống Tố Như về cảm thức mùa xuân theo nét nghĩa này là Hồ Xuân Hương. Xuân trong thơ bà mang vẻ duyên sắc, trào lộng nhưng uẩn ngầm nỗi phận nữ. Thiên nhiên có khi tươi tắn nhưng lòng người thì không vẹn tròn. Hồ Xuân Hương nhìn thấy cái đẹp vĩnh hằng của người phụ nữ trong bức tranh Tố nữ: “Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình/ Chị cũng xinh mà em cũng xinh/ Ðôi lứa như in tờ giấy trắng/ Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh”. Nhưng lắm lúc thấm thía nỗi niềm cô độc thân phận: “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con” (Tự tình).
Với Bà Huyện Thanh Quan, mùa xuân gợi nỗi niềm hoài cổ, cảnh đẹp mà lòng người buồn. Xuân hóa thành không gian “vãn cảnh”, vọng nhớ, hoài Lê. Còn cảm thức mùa xuân trong thơ Nguyễn Khuyến thì thanh nhàn, thuần Việt mà đượm nỗi lo thời cuộc. Thơ xuân của cụ Tam Nguyên Yên Đổ gắn liền làng quê Bắc bộ, có ao xuân, hoa xoan, gió nhẹ, ngõ trúc. Tuy vậy, cảnh xuân đẹp nhưng lòng người u uẩn bởi thời thế rối ren, bởi nỗi buồn sâu lắng của nhà nho yêu nước. Trong khi đó, cảm thức mùa xuân của Tú Xương là trào phúng và phê phán xã hội. Tết và mùa xuân trở thành bối cảnh để Tế Xương tố cáo xã hội thị dân hóa, tây hóa cuối thế kỷ XIX. Tết rộn ràng mà chua chát: pháo tây, rượu tây, kẻ giàu khoe của, kẻ nghèo chật vật. Pháo xuân trở thành tiếng cười đả kích, xơ xác cho nỗi buồn bất lực của kẻ sĩ thất thời.
Cảm thức mùa xuân còn mang âm hưởng hào sảng, lý tưởng cứu nước cao cả. Người tiêu biểu cho cảm thức này là Phan Bội Châu. Với ông, xuân là thời khắc thúc giục hành động, lên đường, thức tỉnh, đổi mới. Xuân là dịp để thức tỉnh, canh tân và là biểu tượng cho hy vọng đổi mới dân tộc. Giọng điệu mạnh mẽ, thúc giục, gợi khí thế tươi mới như thiên nhiên đất trời đang đổi gió thay mùa: “Trời đã mới người càng nên đổi mới/ Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội/ Ghé vai vào gánh vác cựu giang san” (Bài ca chúc tết thanh niên).
Xét về nghệ thuật thể hiện cảm thức mùa xuân, có thể thấy, thơ trung đại giàu thi pháp ước lệ, dùng biểu tượng theo truyền thống thơ Đường. Hệ thống hình ảnh đậm đặc yếu tố tượng trưng, như mai, đào, én, liễu, cỏ non, gió xuân. Thủ pháp tiêu biểu là tả cảnh ngụ tình, mượn cảnh xuân để nói hộ lòng người. Thể thơ đặc trưng là thất ngôn bát cú, lục bát, ngũ ngôn… đã tạo được sự nhịp nhàng hoặc khoáng đạt cho không khí mùa xuân.
Tóm lại, cảm thức mùa xuân trong thơ trung đại Việt Nam đa diện và phong phú. Nó phản chiếu chiều sâu tâm hồn dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử. Chính điều này đã làm giàu cho truyền thống thi ca Việt Nam, góp phần tạo nên bản sắc thẩm mỹ văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Trần Ngọc Tuấn

Bình luận (0)