Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Chiếc đòn gánh – “vật lãng mạn nhất phương Đông”

Tạp Chí Giáo Dục

Trong tim thc sâu lng ca ngưi Vit, chiếc đòn gánh bng tre gi lên cuc sng hng ngày ca ngưi nông dân truyn thng, là biu tưng khó phai m đi vi bn bè quc tế.


Chiếc đòn gánh bng tre gi lên cuc sng hng ngày ca ngưi nông dân Vit Nam

“Đôi vai m mt gánh đy huyn thoi
Tình yêu thương hào phóng đến vô cùng”

Trong tiềm thức sâu lắng của người Việt, chiếc đòn gánh bằng tre gợi lên cuộc sống hằng ngày của người nông dân truyền thống, là biểu tượng khó phai mờ đối với bạn bè quốc tế. Chẳng thế mà nhà văn Mỹ E.Shilture đã có cái nhìn đầy thú vị: “Bà bán hàng rong mang trên vai một vật lãng mạn nhất phương Đông, cái đòn gánh. Bà nhẹ nhàng nhún nhảy bên phải bên trái đi ra khỏi ngõ”…

Truy tìm về nguồn gốc, thật sự chưa tìm thấy một bằng chứng khảo cổ hoặc sử học nào khẳng định chắc chắn thời điểm ra đời của đòn gánh (quang gánh), cũng như chưa xác nhận chủ nhân đích thực đã sáng tạo ra. Mặt khác, hình ảnh đòn gánh đã quen thuộc, ăn sâu vào tâm khảm của người dân đến mức mọi người mặc nhiên thừa nhận nó như một sự tất yếu và ít thắc mắc về nó. Tuy nhiên, nếu về phương tiện ngôn ngữ có thể phần nào khả tín về đòn gánh xuất phát từ dân tộc Việt. Bởi lẽ, hoạt động đi lại chủ yếu của người nông nghiệp xưa là đi bộ với đường làng nhỏ, bờ ruộng hẹp, nên phương tiện đòn gánh có lẽ là phù hợp nhất bởi sự linh hoạt và uyển chuyển. Số lượng từ chỉ hoạt động vận chuyển mang tính đi bộ ở người Việt rất đa dạng và phong phú thuộc loại ít thấy trên các ngôn ngữ thế giới, như: cầm, mang, xách, bưng, bê, khiêng, bồng, bế, ẵm, ôm, địu, đội, vác, gùi, gánh, gồng… Đòn gánh xuất phát từ việc mang trên vai qua trung gian của một cái đòn với vật ở hai bên đầu đòn đều nhau. Vì vậy, nếu như lạc đà là hình ảnh quen thuộc vùng sa mạc, ngựa là hình ảnh quen thuộc của Trung Hoa, châu Âu, voi là biểu tượng của Lào, Thái… thì đòn gánh đã trở thành biểu tượng cho nông thôn Việt Nam. Phương tiện này kết hợp với hình ảnh người phụ nữ đã tạo nên một loại hình văn hóa chợ quê rất riêng và độc đáo.

Nhà văn M E.Shilture đã có cái nhìn đy thú v: “Bà bán hàng rong mang trên vai mt vt lãng mn nht phương Đông, cái đòn gánh. Bà nh nhàng nhún nhy bên phi bên trái đi ra khi ngõ”…

Điều thú vị là, người ta đã từng ví von, đất nước Việt Nam giống như một đòn gánh khổng lồ. Chiếc đòn gánh là miền Trung, gánh hai thúng lúa khổng lồ là hai đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long. Miền Trung nhận về mình sự thiệt thòi điều kiện thiên nhiên khi quanh năm chỉ có gió Lào và cát trắng, cũng giống như sự chịu lực của chiếc đòn gánh để nhường cho hai đầu của đất nước được trù phú, màu mỡ, no ấm, và cũng giống như đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam khi gánh đi phần gian lao khó nhọc để đưa về niềm vui, sự no ấm, hạnh phúc và tương lai cho những đứa con thơ. Và tính cách cần mẫn, chịu thương chịu khó, tiết kiệm… của người miền Trung cũng là nét độc đáo, nhằm tạo một sự cân bằng với tính cách thanh lịch vùng đồng bằng Bắc bộ và tính phóng khoáng hào sảng của người Nam bộ, nhằm tạo nên nét hài hòa trọn vẹn trong bức tranh dân tộc của người Việt Nam.

Chiếc đòn gánh thân thương còn có mặt trong suốt cuộc đời con người ở nông thôn: từ đòn gánh lúa, gánh nước của người nông nghiệp đến gánh hàng rong của người lữ thứ tha hương, rồi gánh xiếc, gánh hát của người nghệ sĩ… Đòn gánh còn chất chứa trên đôi vai, sự gian lao, hy sinh của người mẹ “Đôi vai mẹ một gánh đầy huyền thoại”, sự đảm đang của người vợ “gánh vác giang sơn nhà chồng”, sự thủy chung của tình nghĩa vợ chồng, không thể để “nửa đường gãy gánh”… Cũng không quên, chiếc đòn gánh đã đóng góp có hiệu quả vào việc chống ngoại xâm, giữ yên bờ cõi.

Tưởng chừng cái đòn gánh sẽ lùi vào lịch sử khi cơ giới hóa, công nghệ hóa đang ngày càng chiếm ưu thế và phổ biến, nhưng gánh hàng rong vẫn tồn tại từ nông thôn tới các đô thị lớn nhất Việt Nam. Các nhà kinh tế học nhìn nhận gánh hàng rong như một loại hình thương mại quan trọng, khi họ thống kê: “Mỗi gánh hàng rong bán khoảng 200 ngàn đồng/ngày. Lấy con số này nhân cho 1 triệu lao động sẽ được gần 200 tỷ đồng/ngày, và vài chục ngàn tỷ/năm”.  Còn các nhà quy hoạch đô thị thì nhìn nhận gánh hàng rong như một yếu tố làm ảnh hưởng xấu đến mỹ quan đô thị. Đối với góc nhìn chủ quan của người viết, đó lại là một nét duyên dáng, uyển chuyển, khéo léo, dẻo dai, bền bỉ, hàm chứa bài học nhân sinh sâu sắc về sự hài hòa, cân bằng, triết lý của sự trung dung, sự ổn định – có thể là một giải pháp “lãng mạn” làm mềm hóa “bê tông” một cách đáng yêu cho đô thị Việt Nam!

Bài, ảnh: ThS. Nguyn Hiếu Tín

Bình luận (0)