Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Chuyện chưa biết về anh hùng Năm Dừa: Kỳ 2: Tiếng trống Năm Dừa dậy đất Nam Ô

Tạp Chí Giáo Dục

Sau giải phóng Đà Nẵng 1973, Năm Dừa (thứ hai từ phải sang) về thăm lại nhà bà Phung Ký – một cơ sở cách mạng trong những năm kháng chiến ác liệt (ảnh tư liệu) 

Đêm mồng 2 xuân Mậu Thân 1968, bầu không khí chờ đợi căng thẳng đến ngạt thở. Hồi trống của Năm Dừa – Bí thư cánh Bắc Hòa Vang – Chính ủy mặt trận Bắc Hòa Vang lúc bấy giờ chợt vang lên trong đêm xé toạc màn đêm im ắng, từ khắp các đường thôn ngõ xóm đoàn biểu tình tiến vào Nam Ô, Hòa Khánh, bao vây đồn Xuân Thiều. Lực lượng vũ trang đồng loạt đánh chiếm Nam Ô, lực lượng biệt động thành cải trang tiến vào thành phố Đà Nẵng…
Chuẩn bị cuộc tấn công
Giai đoạn 1967-1968, mặt trận miền Trung chìm trong khỏi lửa thời kỳ ác liệt nhất của chiến tranh. Vỹ tuyến 17 (nằm ở địa phận tỉnh Quảng Trị) cắt chia đôi bờ Nam – Bắc mỗi ngày đêm có hàng vạn tấn lương thực, vũ khí đạn dược cùng quân giải phóng vượt sông Bến Hải chi viện cho chiến trường miền Nam, mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng lúc bấy giờ trở thành điểm nóng. Giặc Mỹ dồn mọi nguồn lực để giữ bàn đạp nhằm tấn công ra Bắc. Với những chiến công đầy mưu trí, dũng cảm, cuối 1967, Nguyễn Thanh Năm được điều về làm Bí thư cánh Bắc Hòa Vang, Chính ủy mặt trận Bắc Hòa Vang (Nam đèo Hải Vân) để chuẩn bị cuộc tấn công xuân Mậu Thân 1968.
Lúc bấy giờ chiến trường Bắc Hòa Vang gần như là một địa bàn hoàn toàn xa lạ, điều kiện đi lại hết sức khó khăn, đặc biệt là đối với một người chưa hề mường tượng ra địa hình như Năm Dừa. Lo lắng lắm. Nhưng lo không phải vì sợ chết chóc do bom rơi đạn nổ mà lo không hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều đêm, nằm gác tay lên trán, đóm thuốc lập lòe thâu đêm không ngủ, Năm Dừa trăn trở làm thế nào để nắm địa hình một cách thông thạo nhất, rồi cả đến chuyện lo lương thực, thuốc men, súng đạn cho anh em kiên cường chiến đấu… Điều thuận lợi nhất đối với ông có lẽ là lòng dân theo cách mạng. Những người nông dân chân chất cả cuộc đời cặm cụi làm ăn, bám mảnh ruộng, buông cành câu tấm lưới nơi mặt biển lại giàu lòng yêu quê hương, căm thù giặc sâu sắc. Họ sẵn lòng bỏ cả ngày làm lụng, nhường đến lon gạo cuối cùng và thậm chí chấp nhận đào hầm xuyên cả ngôi nhà mình để che giấu cho cán bộ cách mạng.
Trước chiến dịch Mậu Thân 1968, Nguyễn Thanh Năm được Tỉnh ủy Quảng Đà triệu tập về một vùng núi thuộc huyện Duy Xuyên (Quảng Nam) để nghe truyền đạt nghị quyết chuẩn bị chiến dịch. Suốt 4 ngày nghe truyền đạt, khác với nhiều đồng đội trăn trở với những ý kiến, Năm chăm chú lắng nghe và suy ngẫm. Trong đầu Năm, làm sao để chấp hành chủ trương cho đúng, vừa giành được chiến thắng nhanh, gọn và ít tổn thất nhất. Kết thúc hội nghị, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà lúc bấy giờ là ông Hồ Nghinh đề nghị Năm phát biểu. Năm chỉ đáp gọn lỏn vài câu rằng: “Mệnh lệnh thì phải làm, nhưng nếu không chiếm được Phước Tường, không dùng pháo đánh vào trận địa pháo Thanh Vinh, Sân bay Đà Nẵng thì có tấn công và nổi dậy không?”. “Trường hợp có trở ngại về mặt quân sự phải đứng ở phương diện này thì vấn đề tấn công và nổi dậy là mệnh lệnh của Đảng, mà mệnh lệnh của Đảng thì như sơn phải chấp hành”, ông Hồ Nghinh nói.
“Tiếng trống Năm Dừa”
Trước 0 giờ ngày mồng 1 Tết năm 1968, quân ta đã sẵn sàng xuất kích tấn công vào các mục tiêu trung tâm thành phố như: Đồn Nhất, đồn Nhì, Cầu Đen, trận địa pháo Thanh Vinh, Bầu Tràm, Bầu Mạc, Xuân Thiều… Năm Dừa tổ chức cho anh em ngồi theo từng đại đội trong vườn nhà dân, khi có tiếng trống nổi lên thì cùng toàn dân xuống đường. Nhưng bất ngờ, đến 0 giờ, điện hỏa tốc từ tỉnh báo ra phải rút quân chờ 0 giờ mồng 2 Tết mới tấn công. Năm Dừa đắn đo: Quân ta đã tiến hết lên thành phố, pháo vào rồi, một bộ phận bộ đội cũng đã tiến vào đánh đồn Nhất… Cuối cùng Năm Dừa quyết định chấp hành mệnh lệnh của Đảng. “Khi nào tôi đánh tiếng trống Nam Ô thì tất cả phái nhất, nhì, ba, Hòa Lạc, Hòa Vinh và trên núi kéo quân xuống, chuẩn bị thuyền ghe bơi qua sông”, Năm Dừa dõng dạc. Đến rạng sáng mùng 2 Tết, tiếng trống Nam Ô của Năm Dừa vang lên dồn dập phát lệnh tấn công. Tất cả đoàn biểu tình kéo vào Nam Ô, Hòa Khánh, bao vây đồn Xuân Thiều. Lực lượng vũ trang đánh chiếm thị trấn và cầu Nam Ô. Lực lượng biệt động thành cải trang tiến vào thành phố…
Đến 9 giờ, địch bắt đầu phản kích. Chúng dùng máy bay thả bom, điều pháo tàu bao vây và xả đạn vào Nam Ô. Một tiểu đoàn chủ lực từ ngã ba Huế ép vào, lực lượng bên kia Xuân Thiều kéo ra. Xe bọc thép từ Quảng Nam xuống dàn hàng ngang bên kia sông. Đoàn biểu tình nằm trong vòng vây của địch tại núi Xuân Dương và thị trấn Nam Ô. Máy bay ném bom như vãi trấu. Tình thế của ta trở nên khó khăn. Năm Dừa chỉ đạo mọi người vào đồn Xuân Thiều để giữ chân bọn lính. Anh lệnh cho bộ đội đào hầm cá nhân chờ địch đến gần sẽ đánh. 12 giờ, đoàn biểu tình tan rã. Năm Dừa rời khỏi đoàn biểu tình, ra gặp đồng chí Thúy (Khu đội trưởng) và đồng chí Vân (Quận đội trưởng) đang chốt dưới công sự tại đường sắt Xuân Dương. Hai người hỏi anh: “Quân sự thì khó rồi, về mặt chính trị đề nghị anh xin ý kiến Đảng tìm con đường khác”. Năm Dừa nói: “Bây giờ tìm cái sống trong cái chết. Đào công sự nằm tại chỗ. Bám theo từng tổ một, chỉ huy thật chặt các tổ đó. Địch bắn thì tiến theo đánh. Không lùi, nếu lùi thì sẽ bị pháo, máy bay bắn”…
Phan Vĩnh Yên
Kỳ 3: Căn nhà lá của mẹ Nhu 

Bình luận (0)