|
Hai câu thơ trên chiếc xe hiệu Wave đã “xuống cấp” nghiêm trọng của nhà thơ Kiên Giang
|
Sở dĩ người viết đặt tựa cho bài cuối về nhà thơ Kiên Giang là Mẹ và “người dưng” là vì ở không gian, thời gian nào và người đối diện là ai thì ông cũng luôn nhắc đến mẹ và “người dưng”.
Nhà thơ Kiên Giang rất tốt bụng. Mà ở đời, người tốt thì thường gặp những nỗi buồn không tên, nếu không muốn nói là bất hạnh. Trước người nghèo như mình, ông luôn là một người giàu có, sẵn sàng san sẻ mọi thứ, kể cả những thứ cần kíp, quan trọng với mình. Ông bảo: “Tốt bụng không phải để trả ơn đời, ơn người dưng đã hết lòng cưu mang mình trong tháng ngày loạn lạc cũng như trong hiện tại mà vì bản năng, vì cốt cách con người của tôi vậy”.
“Dạ sao dạ mến người dưng hết lòng”
Khoảng đầu năm 1956, soạn giả Kiên Giang gặp ông Bảy Cao, người quen biết khá thân với ông Sáu Lầu (Cao Văn Lầu, “cha đẻ” của Dạ cổ hoài lang, sau này phát triển thành bản vọng cổ). Ông Bảy Cao nói: “Ông Sáu khổ lắm, toàn đi đờn ở đám ma”. Quý ông Sáu, thương hoàn cảnh của một con người tài ba mà Kiên Giang quyết định tổ chức chương trình Uống nước nhớ nguồn trên Báo Lẽ Sống. Biết được ý nguyện của Kiên Giang, chương trình này được soạn giả, nhà văn Ngọc Linh ủng hộ hết mình. Ông Sáu Lầu được mời từ Bạc Liêu lên nói chuyện về Quá trình và nguyên nhân phát sinh của bản vọng cổ tại rạp Quốc Thanh. Lúc bấy giờ, đây là một buổi nói chuyện khá quy mô, thu hút nhiều người tham dự, đặc biệt là những nhà chuyên môn. Đây cũng là đợt quyên góp số tiền lớn giúp ông Sáu Lầu mổ mắt và cất nhà.
Những năm 50-60, hầu hết các nhạc sĩ, soạn giả tên tuổi đều có “lò” cổ nhạc. Dù không có “lò” nhưng soạn giả Kiên Giang nhiệt tình tuyển chọn những người trẻ có năng khiếu, mê đờn ca để đào tạo và gửi đi thi Khôi nguyên vọng cổ. Người đạt giải nhất Khôi nguyên vọng cổ năm 1964 là Minh Dưng (tức NSƯT Minh Vương ngày nay). Và những gương mặt tên tuổi trưởng thành từ cuộc thi này như Diệp Lang, Thanh Nga, Bạch Tuyết…
Nhà thơ, soạn giả Kiên Giang viết cho nhiều tờ báo lớn của Sài Gòn trước 1975 như Tiếng Chuông, Điện Tín, Tia Sáng… và tham gia phong trào ký giả ăn mày dẫn đầu đoàn biểu tình chống lại sự đàn áp của chính quyền Sài Gòn lên giới báo chí. Vì lý do đó mà ông đã bị bỏ tù. Sau những ngày ở tù về, soạn giả Kiên Giang tá túc nhà ông Văn Mọi làm nghề khắc bản cây trên đường Hồ Hảo Hớn, Q.1. Ở chung trong nhà này còn có họa sĩ Hiếu Đệ (1935-2009, giáo sư Trường Quốc gia Trang trí mỹ thuật Gia Định, họa sĩ vẽ biếm họa trên Báo Tiếng Chuông, Đời Mới). Nhà thơ Kiên Giang còn nhớ như in, đó là một căn nhà sàn dựng tạm trên rạch bần. Nửa đêm bắt lính, có báo động là lội xuống ôm gốc cây chờ đến khi nào lính đi mới chui lên. Mỗi lần như vậy, quần áo, người ngợm toàn sình là sình, còn được chủ nhà ưu tiên lấy nước mưa để tắm. Những ngày tháng đó, họ được sự chở che, đùm bọc của gia đình ông Mọi. Sau nhiều năm lang bạt kỳ hồ, ông đã trở lại tìm gia đình đã một thời che chở cho mình. Người tốt đó vẫn còn sống gần nhà thờ Cầu Kho, Q.1. Gặp lại trong nỗi vui mừng khôn xiết, lý trí ông mách bảo rằng mình phải sống tốt hơn nữa với người đời, dẫu quanh mình còn lắm kẻ sân si.
Ở tuổi 86, cái tuổi gần đất xa trời nhưng ông vẫn tự đi lại bằng xe máy đều đặn mỗi ngày từ xã Phú Xuân, huyện Nhà Bè đến Nhà Truyền thống Sân khấu, đường Cô Bắc, Q.1. Trên chiếc xe hiệu Wave đã “xuống cấp” nghiêm trọng, ông có đề hai câu thơ: “Gió sao gió thổi sau lưng/ Dạ sao dạ mến người dưng hết lòng”. Ý thơ ông dành tặng những người đã cưu mang ông trong suốt gần 60 năm ở Sài Gòn.
Người mẹ trong thơ
Sau mỗi câu chuyện cà kê, nhà thơ Kiên Giang thường xen vào hình ảnh của người mẹ bằng những câu thơ xúc động. “Cả cuộc đời mẹ tảo tần, lam lũ để tôi có vốn liếng chữ nghĩa theo nghiệp thi ca”, nhà thơ Kiên Giang tâm sự. Ông bước chậm rãi đến bên chiếc xe máy cà tàng, lục trong chiếc túi vải xỉn màu ra những bài thơ viết tay trên giấy A4. Giấy trắng ngả vàng bởi thời gian nhưng nét chữ vẫn đậm màu mực. Nhà thơ Kiên Giang có nhiều bài thơ nói về mẹ. Hình ảnh người mẹ trong thơ ông là những câu chuyện thật cảm động về mẹ mà những ai dù chỉ một lần vô tình làm mẹ buồn đều bật khóc. Giọng đọc của ông có lúc bị đứt quãng, nước mắt chảy dài trên đôi gò má xương xẩu: “…Gà mới gáy má vừa thức giấc/ Một mình vo gạo ở cầu ao/ Nấu cơm cho mấy mươi công cấy/ Ngủ đứng ngoài sân tựa cổng rào/ Em chồng năm đứa nhởn nhơ chơi/ Khi mẹ đày thân trả nợ đời/ Cơm nguội cá kho chan nước mắt/ Dầm mưa không mảnh áo chằm tơi..”. Đó là hình ảnh của người mẹ trong bài thơ Xe trâu của ông. Trong Tóc khói ông viết vào một đêm cuối năm 2011 là một người mẹ tảo tần vì chồng vì con, là một người phụ nữ cả đời không rời xó bếp, tóc bạc rụng nhiều trong khói chợ để chồng, con lo việc nước. Bài thơ có đoạn: “…Mưa dầm củi ướt, cơm chưa nấu/ Xó bếp mẹ ngồi bó gối tay/ Con khóc đòi cơm lòng mẹ rối/ Đồng mưa cha nắm vững chuôi cày…/ Tóc khói quyện theo khói đốt đồng/ Một thời làm mẹ mấy long đong/ Không rời xó bếp chân thêm cũ/ Trả hết nợ con với nợ chồng…”. Để rồi mỗi khi nghĩ về mẹ, ông thấy mình có lỗi, khóe mắt cay xè: “Ngày giỗ mẹ dâng hương tưởng niệm/ Nhớ thương tóc khói kiếp lưu đày/ Lặng nhìn di ảnh sao cay mắt/ giống mẹ con ngồi bó gối tay”.
Bài, ảnh: Trần Tuy An
| Hiện tại, nhà thơ Kiên Giang đang gấp rút viết cuốn hồi ký về mình. Ông cho biết, cuốn hồi ký ấy sẽ là phương tiện để lột tả cặn kẽ về số phận của một con người, các cuộc tình đã đi qua và cả những gì ông ôm ấp, gìn giữ suốt hơn 80 năm mà chưa có dịp thổ lộ cùng ai. |


Bình luận (0)