Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Chuyện học, học nữa… ở vùng đất học

Tạp Chí Giáo Dục

Một lớp học trong thời kháng chiến. Ảnh: T.La

Trong tháng 10-2012, TP.HCM đã phát động phong trào “Tuần lễ Hưởng ứng học tập suốt đời”. Hòa chung vào không khí sôi nổi của các lớp học ở từng góc phố, ở mỗi người dân, tôi lại nhớ về những ký ức tuổi thơ về một thời đi học.
Năm 1945 khi cách mạng giành được chính quyền, bố tôi đã là một cậu bé 15 tuổi, thế nhưng cũng như bao đứa trẻ sống trong cảnh đêm tối của nô lệ, ông vẫn không hề được đến trường. Biết nói, biết nghe nhưng không biết đọc, biết viết.
1. Bố kể cũng may mà học lóm được vài chữ khi thả diều, chăn trâu nên có đi đâu trong làng thì cũng đọc được vài từ với người ta cho khỏi hổ thẹn. Hai người em trai của bố tôi cũng đã đến tuổi đi học từ lâu nhưng đường đến trường vẫn xa vời vợi. Được đi học chữ là một điều gì đó rất viển vông và xa xỉ đối với những người dân nghèo khó ở ngay vùng quê vốn được cho là đất học từ hàng trăm năm trước. Thế nhưng chỉ vài tháng sau đó, phong trào xóa nạn mù chữ đã được phát triển rộng khắp. Tuy chưa mở được thêm nhiều trường lớp nhưng không khí học chữ đã len lỏi vào khắp nơi, hầu như chỗ nào người ta cũng bàn chuyện vào lớp học. Ông nội tôi bảo với các con của mình: “Bây giờ nước nhà độc lập, ai cũng được bình đẳng bình quyền, không còn phải chịu kiếp nô lệ nên các con phải ráng sức mà học”. Bố tôi và hai người chú không ngờ có ngày mình lại được cắp sách đến trường. Thế là ngoài một buổi đi chăn trâu làm đồng, họ được các anh các bác đưa vào lớp học. Người dân cảm ơn Cụ Hồ đã đem lại tự do cho đất nước nên cũng nghe theo lời dạy của Cụ phải cố gắng học chữ để biết đọc biết viết.
Diệt được giặc ngoại xâm rồi thì phải diệt cho được “giặc dốt” và “giặc đói”. Lúc bấy giờ, trừ một vài người lớn tuổi biết chữ Nho và một số thanh niên con nhà giàu học trường Tây biết tiếng Pháp, còn lại phần đông đều không biết gì về chữ Quốc ngữ. Điều này cũng rất dễ hiểu vì đâu đâu cũng thấy nhà tù và trại lính, còn trường học chỉ thưa thớt như thể đếm được trên đầu ngón tay. Thế nhưng đến từng thôn xóm, bản làng chỗ nào cũng có lời kêu gọi chống thất học của Đảng và Chính phủ. Không chỉ khuyên các con đi học, ông bà nội cũng cố tìm mọi cách để có thêm chữ nghĩa trong đầu.
2. Lúc bấy giờ lớp học bình dân học vụ đủ mọi thành phần và lứa tuổi. Ngồi cạnh những đứa trẻ là các chị, các anh thanh niên và có cả người già tóc bạc phơ đúng như lời thơ Tố Hữu: “Nghiêng đầu trên tấm bảng chung/ Phơ phơ tóc bạc, bạn cùng tóc xanh/ Này em, này chị, này anh/ Chen nhau mà học rách lành sao đâu/ I tờ (t) mớm chữ cho nhau(Trường tôi).
Người nào biết chữ nhiều hơn thì dạy người chưa biết chữ hoặc biết chữ ít, ai cũng có thể trở thành thầy giáo và học sinh của người khác. Ai có điều kiện thì đến trường, người nào không có thì học lúc đi làm, lúc đi chợ và cả lúc vui chơi.
Bố tôi kể có lần nhà tôi phải ăn cơm với nước mắm mấy ngày không phải vì không có tiền mà vì bà nội không được vào trong chợ. Bởi vì trước cổng chợ có một cái nong to treo trên cao cho mọi người thấy nếu ai đọc được một vài chữ trên đó thì mới được vào. Thế là mấy hôm đó không chỉ có cha con đàn ông mà mấy mẹ con đàn bà cũng phải đánh vần từng chữ một. Nói là lớp học nhưng nhiều khi đó là một ngôi đình, một gian nhà bỏ trống, hay một góc sân hợp tác xã rất dã chiến. Nhưng cũng có khi học cả ngoài đồng lúc cày bừa gặt hái: “Nhà tranh vách đất đủ rồi/ Đình quang điếm chật, được ngồi là hay/ Trường tôi vui giữa luống cày/ Bến sông, bãi chợ, bóng cây, lưng đồi”. Cái gì tận dụng được là người ta viết chữ lên đó từ vách tường, mặt đất cho đến lưng trâu và cả nong nia, rổ rá: “Trường tôi vui giữa biển khơi/ Chữ reo mặt sóng, chữ ngời ghe câu/ Trường tôi vui giữa rừng sâu/ Chữ theo đuốc lửa, đêm thâu tiếng người”. Điều kiện học tập vô cùng khó khăn, thiếu ánh sáng thì người ta dùng dầu lạc, nhựa trám, hạt bưởi đốt lên thành đèn soi vào từng con chữ. Lá chuối, mo cau thay cho giấy. Không có phấn thì bẻ gạch non, sắn khô ra mà viết. Lời Bác Hồ nhắn gửi đồng bào mà mẹ tôi thuộc làu làu và thường đọc để răn dạy anh em chúng tôi: “Quốc ngữ là chữ nước ta/ Ai ai cũng học, trẻ già chớ quên/ Có học mới làm được nên/ Xây nền văn hóa vững bền non sông”.
3. Được nghe lại những câu chuyện này, mấy chị em tôi lại càng thêm kính phục Bác Hồ dù bận rộn biết bao công việc nhưng vẫn lo việc học cho người dân. Cũng vì lẽ đó mà cha mẹ tôi có 8 người con, dù rất nghèo khó nhưng bằng mọi cách vẫn cho các con học đến nơi đến chốn. Ngay cả khi bom đạn chiến tranh không một ngày ngưng nghỉ nhưng trong rừng sâu sơ tán vẫn vang vọng tiếng học bài: Đó là tinh thần ham học của một thế hệ học sinh trong thời kỳ chống Mỹ mà nhà thơ Trần Đăng Khoa đã khẳng định với cả thế giới: “Chúng tôi đến lớp ngày ngày/ Mũ rơm tôi đội túi đầy thuốc men/ Ao trường vẫn nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu” (Gửi bạn Chi Lê).
Có một cuốn sổ tay mà tôi cất giữ đã hơn 30 năm nay do một thầy giáo tặng trong đó ghi câu nói của Bác Hồ làm đề từ: “Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân”. Tuy thầy không nói ra nhưng tôi biết thầy muốn khuyên học sinh hãy noi theo tấm gương Bác Hồ – một tấm gương tự học và học tập suốt đời không bao giờ ngưng nghỉ. Đó cũng là bài học lớn cho chúng ta trong công cuộc đổi mới và ra sức xây dựng một xã hội học tập suốt đời.
Bài, ảnh: Phan Ngọc Quang

Bình luận (0)