Sự kiện giáo dụcVấn đề - Sự kiện

Đại hội XIV của Đảng: Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới

Tạp Chí Giáo Dục

Ngày 23-1 va qua, Đi hi XIV ca Đng bế mc đng nghĩa vi vic m ra k nguyên mi. Cũng ging như 40 năm trưc, Đi hi VI ca Đng đã khép li thi k bao cp, đng thi m ra thi k đi mi đưa Vit Nam thoát khi nhóm 20 nưc nghèo nht thế gii…

Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên mới

T đói nghèo tr thành nưc có thu nhp trung bình cao

Sau Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975) những tưởng Việt Nam sẽ được bình yên để xây dựng lại đất nước. Nhưng rồi 2 cuộc chiến khác lại nổ ra – chiến tranh biên giới Tây Nam, chiến tranh phía Bắc. Chưa dừng lại ở đó, chúng ta còn bị bao vây, cấm vận. Cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế – xã hội diễn ra gay gắt. Trong khoảng 10 năm sau thống nhất đất nước (1975-1985), thu nhập bình quân đầu người chỉ dao động từ 125 đến 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới, tỉ lệ lạm phát thời điểm tháng 12-1986 lên đến 774,7%.

Để thoát khỏi tình trạng trên, Đại hội VI của Đảng (1986) đã ra nghị quyết đưa đất nước bước vào giai đoạn đổi mới.

Theo đó, 10 năm đầu đổi mới (1986-1995), đất nước đã vượt qua khó khăn từ vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, các tổ chức quốc tế và các nước trong khu vực Đông Nam Á, gia nhập ASEAN. Đặc biệt, nền kinh tế đã khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái; đạt mức tăng trưởng khá cao, liên tục và tương đối toàn diện.

Trong 10 năm tiếp theo (1996-2005), từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế, tăng xuất khẩu và có dự trữ. Giai đoạn 2006-2015, nước ta chính thức trở thành nước đang phát triển. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 30 năm đầu đổi mới trung bình gần 7%/năm, trong đó có 7 năm trên 8% và 2 năm trên 9%.

Trong 10 năm gần đây (2016-2025), nền kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, toàn diện. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2025 đạt khoảng 6,2%/năm. Riêng năm 2025, GDP đạt trên 510 tỉ USD, gấp 1,47 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số xếp hạng hạnh phúc tăng 33 bậc so với năm 2020, xếp thứ 46/143 quốc gia.

Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế.

T tin bưc vào k nguyên mi

Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Theo đó, với chủ đề “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”; Đại hội XIV của Đảng đã xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm thành lập (1930-2030); hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2045).

Nghị quyết đại hội đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển chủ yếu 5 năm 2026-2030. Trong đó, về kinh tế – Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; Tỉ lệ đô thị hóa đạt trên 50%…

Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,78; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 75,5 tuổi; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%; Tỉ lệ hộ nghèo duy trì mức giảm 1-1,5 điểm%/năm…

Về môi trường: Tỉ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỉ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt khoảng 65-70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8-9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98-100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia.

Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước, Đại hội XIV nêu rõ các nhiệm vụ then chốt cần tập trung trong nhiệm kỳ 2026-2030.

Đó là, đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý, quản trị phát triển giữa Trung ương và địa phương, phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của địa phương; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp mới; phát triển lực lượng sản xuất mới, các mô hình, phương thức sản xuất kinh doanh mới.

Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài; khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, bảo đảm khách quan, dân chủ, thực chất, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thực sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước.

Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội; nhất là kết cấu hạ tầng giao thông đa phương thức, hạ tầng công nghệ phục vụ cho quá trình quản lý, quản trị và kiến tạo phát triển, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thùy Linh

 

Bình luận (0)