Sự kiện giáo dụcVấn đề - Sự kiện

Đề thi học sinh giỏi “giữ được phẩm chất đáng quý của môn văn”

Tạp Chí Giáo Dục

Đề thi học sinh giỏi ngữ văn lớp 9 TP.HCM với chủ đề “chạm” được đánh giá hay ở cả tư tưởng, cấu trúc và độ mở, đặc biệt là “giữ được phẩm chất đáng quý của môn văn”, mang tính phân loại cao để chọn được học sinh giỏi.

Học sinh tham dự kỳ thi học sinh giỏi lớp 9 TP.HCM

Thạc sĩ Trần Lê Duy – giảng viên Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đánh giá, đề thi có độ chín về tư tưởng và sự tiết chế trong cách đặt vấn đề. Đề không chọn lối ra câu hỏi cầu kì, không sa vào cảm giác đánh đố, mà đi bằng một trục rất đẹp: “chạm”. Chính lựa chọn ấy tạo nên một không khí đề thi vừa mềm mại, vừa sâu, vừa đúng với tinh thần của môn văn.

Điểm khen đầu tiên, theo thạc sĩ Duy là tính nhất quán trong cấu trúc toàn đề. “Chạm” không chỉ là một chủ đề được nêu lên ở phần đầu, mà thực sự trở thành sợi dây xuyên suốt, liên kết lời dẫn, ngữ liệu đọc hiểu và hai câu nghị luận. Từ cái “chạm” cơ học, vô thức trên màn hình điện thoại, đề khéo léo dẫn học sinh đến những cái chạm có chiều sâu hơn: chạm vào ngôn ngữ, chạm vào ký ức, chạm vào nỗi niềm của người thân, rồi cuối cùng là chạm vào vẻ đẹp của văn chương.

“Đây là cách tổ chức đề có ý thức rõ ràng, cho thấy người ra đề không chỉ chọn một từ khóa hay, mà còn biết triển khai từ khóa ấy thành một hệ thống tư duy thống nhất” – thạc sĩ Duy khẳng định.

Song song đó, giảng viên này cho rằng, ngữ liệu 1 trong đề được chọn khá đắt. Từ câu chuyện về việc hỏi để hiểu hơn những người thân trong gia đình, đề mở ra một vấn đề rất gần với đời sống mà vẫn đủ chiều sâu để suy nghĩ: phải chăng hỏi là cách để chạm vào thế giới tâm hồn người khác? Cách đặt câu hỏi bằng cụm từ “phải chăng” không ép học sinh phải đi theo một kết luận đóng kín mà các em có thể đồng tình, đồng tình có điều kiện, hoặc mở rộng, bổ sung vấn đề.

“Tôi đánh giá rất cao việc đề chạm tới một vùng trải nghiệm khá gần với học sinh lớp 9. Ở lứa tuổi này, các em bắt đầu sống nhiều hơn với thế giới nội tâm của mình, đồng thời cũng dễ xuất hiện những khoảng cách vô hình với cha mẹ, ông bà, người thân. Vì vậy, việc đặt ra câu chuyện về hỏi han, lắng nghe, thấu hiểu gia đình không hề xa lạ hay gượng ép, mà có độ gần gũi tự nhiên với đời sống tuổi mới lớn” – thạc sĩ Duy nhấn mạnh.

Khẳng định thêm, giảng viên này nêu rõ, cái hay là đề không đẩy học sinh vào những khẩu hiệu lớn lao, mà hướng các em về một năng lực rất căn bản nhưng ngày càng quan trọng: biết quan tâm, biết hỏi, biết đi vào thế giới của người khác bằng sự chân thành.

Ở câu nghị luận văn học, theo thạc sĩ Trần Lê Duy, việc lựa chọn hai bài thơ Áo cũ của Yến Lan và Lỡ của Vũ Quần Phương là một lựa chọn tinh tế. Cả hai văn bản đều ngắn, ít lời, không phô trương kỹ thuật, nhưng lại gợi được những rung động rất sâu về gia đình, thời gian, ký ức và tình thân. Những bài thơ như thế rất phù hợp để phân loại học sinh giỏi, bởi các em không thể chỉ kể lại nội dung hay gọi tên cảm xúc chung chung, mà phải có khả năng nhận ra sức nặng của chi tiết, độ lắng của giọng điệu và những khoảng trống giàu ý nghĩa trong văn bản.

Cạnh đó, việc cho học sinh được chọn một trong hai bài thơ cũng là một điểm đáng nói của đề, thể hiện tinh thần tôn trọng cảm xúc tiếp nhận của học sinh. Có em sẽ rung động hơn với hình ảnh người mẹ chắt chiu, nhẫn nại trong Áo cũ; có em sẽ bị ám ảnh hơn bởi nỗi trống trải, lặng lẽ của người cha trong Lỡ. Một đề thi văn học tốt không nên buộc tất cả học sinh phải rung động theo cùng một cách, và ở điểm này, đề đã để lại cho các em một khoảng tự do cần thiết.

“Điểm đắt nhất của câu 2 theo tôi nằm ở yêu cầu: “Từ đó bàn về cách người đọc chạm đến vẻ đẹp của tác phẩm văn chương”. Đây là chỗ đề vượt lên khỏi kiểu kiểm tra quen thuộc chỉ dừng ở phân tích nội dung và nghệ thuật. Nó buộc học sinh không chỉ đọc tác phẩm, mà còn phải ý thức về cách đọc” – thạc sĩ Duy đánh giá.

Giảng viên này nêu dẫn chứng: Một học sinh khá có thể nói rằng muốn cảm được bài thơ thì phải đọc kỹ, phải đặt mình vào tâm trạng nhân vật trữ tình, phải đọc bằng tình cảm. Nhưng một học sinh thực sự giỏi sẽ đi xa hơn: các em hiểu rằng chạm đến vẻ đẹp của văn chương là một quá trình chủ động, trong đó người đọc phải mang theo vốn sống, trải nghiệm, độ nhạy cảm và khả năng suy tưởng của chính mình để cộng hưởng với văn bản.

“Đề thi hay ở cả tư tưởng, cấu trúc và độ mở. Hay ở tư tưởng vì hướng học sinh về chiều sâu của sự thấu cảm, của gia đình, của năng lực lắng nghe và đọc sâu. Hay ở cấu trúc vì toàn bộ đề được tổ chức nhất quán quanh một từ khóa trung tâm là “chạm”. Hay ở độ mở vì không đóng khung suy nghĩ của học sinh, mà khuyến khích đối thoại, bổ sung và thể hiện trải nghiệm cá nhân. Quan trọng hơn, đề thi giữ được phẩm chất đáng quý của môn văn: không chỉ kiểm tra tri thức và kỹ năng, mà còn đánh thức khả năng rung động, khả năng hiểu người và hiểu đời, phân loại cao để chọn được học sinh giỏi” – thạc sĩ Duy nhấn mạnh.

Định hướng mới cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trường THCS

Theo thạc sĩ Trần Lê Duy, đề thi học sinh giỏi lớp 9 TP.HCM năm nay đã đặt ra những định hướng rất rõ ràng cho công tác bồi dưỡng mũi nhọn ở bậc THCS hiện nay. Trước hết, việc bồi dưỡng học sinh giỏi không đồng nghĩa với việc dạy những thứ quá cao siêu hay xa rời sách vở. Nền tảng quan trọng nhất vẫn là bám sát yêu cầu cần đạt của Chương trình GDPT 2018, đặc biệt là cốt lõi ở hai kỹ năng: đọc và viết. Chiến lược thiết thực nhất là giáo viên nên tăng cường cho học sinh thực hành tiếp xúc với các văn bản lạ, không cung cấp trước thông tin tác giả hay hoàn cảnh sáng tác.

Công tác bồi dưỡng mũi nhọn cần tiến thêm một bước là phát triển năng lực chuyên sâu cho các em. Đối với mảng nghị luận xã hội, giáo viên cần chú trọng rèn luyện tư duy phản biện và góc nhìn đa chiều. Thay vì hướng dẫn các em viết theo những khuôn mẫu có sẵn, cần khuyến khích học sinh biết lật lại vấn đề, biết mang chính vốn sống, trải nghiệm và những quan sát đời thường của mình để làm sáng tỏ luận điểm.

Riêng với mảng nghị luận văn học, bên cạnh việc nuôi dưỡng một tâm hồn nhạy cảm, biết rung động trước cái đẹp, các em cũng cần được trang bị hiểu biết về những quy luật tự nhiên của văn chương. Không cần nhồi nhét lý luận nặng nề, chỉ cần các em hiểu được hành trình từ trái tim nhà văn đến trái tim người đọc diễn ra như thế nào là bài viết đã có chiều sâu hơn hẳn.

Về phương pháp, khâu bồi dưỡng cần rèn giũa cho các em cách xây dựng hệ thống luận điểm thật sáng rõ, cách tổ chức lập luận chặt chẽ, lớp lang. Và quan trọng không kém là cách sử dụng ngôn từ: làm sao để viết vừa chính xác, khúc chiết, lại vừa giàu sức gợi và mang đậm giọng điệu cá nhân của riêng mình.

“Để rèn luyện, giáo viên nên yêu cầu học sinh lập sơ đồ tư duy phác thảo hệ thống luận điểm trước khi cầm bút viết để tránh việc ý tưởng giẫm chân lên nhau. Ngoài ra, thay vì bắt viết cả bài dài, hãy cho các em thực hành “chữa bệnh diễn đạt” trên từng đoạn văn ngắn: cùng nhau tìm ra những từ ngữ đắt giá nhất để thay thế cho những từ sáo rỗng, hoặc thử viết lại một đoạn văn với những sắc thái giọng điệu khác nhau” – thạc sĩ Duy gợi ý.

Yến Hoa

Bình luận (0)