Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Đường Hồ Chí Minh trên biển: Kỳ 3: Bến cảng lòng dân

Tạp Chí Giáo Dục

Bà Huỳnh Biên Thùy (tức Sáu Thùy). Ảnh: M.T.Đ

Tôi đến với Vàm Lũng là đến với bến đậu của các con “Tàu không số” năm xưa. Rừng ngập mặn Cà Mau xứ sở của đước vẹt là đây. Phương tiện duy nhất đến với Vàm Lũng là ghe tàu, vàm lớn vàm ngang, bàu lớn bàu nhỏ, đầm cùng kênh rạch vòng vèo chằng chịt, đất và nước hòa với nhau bởi rừng đước phủ kín.
Người Đất Mũi
Vàm Lũng là cửa sông Rạch Gốc, một con sông lớn nhất ở đây, địa danh này đã đi vào lịch sử. Nơi đây chính là bến cảng đón nhận và che chở cho hàng trăm con tàu không số vận chuyển vũ khí vào chiến trường Nam bộ.
Ngã ba Chùm Gọng, nơi đón con tàu Phương Đông I, cũng là “văn phòng” của Đoàn 962, dưới tán rừng đước, có những con người gan góc dạn dày của khắp rừng Cà Mau, tự nguyện về đây tham gia vào công việc tiếp nhận vũ khí, giữ gìn và vận chuyển vũ khí, nuôi quân, chăm sóc sức khỏe các chiến sĩ tàu không số, chiến đấu dũng cảm quên mình để bảo vệ bến.
Bây giờ rừng đước vẫn in ngấn nước lớn ròng, chỉ khác là tuổi đời đã thêm 50 năm. Đúng ngày họp mặt truyền thống Đoàn 962. Người Đất Mũi Cà Mau mặn mà chân chất nồng ấm.
Những năm 1963-1964, có ngày bến Vàm Lũng đón tới 5-6 tàu liền. Chú Tư Đức (Năm Mắm), Chính ủy Đoàn 962 đầu tiên, về tới bến là cười hỉ hả: “Chưa bao giờ tao mừng vậy đó tụi bay, vũ khí này thì lo gì không thắng Mỹ. Bến Cà Mau giờ như yết hầu của cả Nam bộ này! Đã thật…! Tao ở Bến Tre mà sao thấy yêu rừng đước Cà Mau này quá xá! Đã vậy tao cho bả sanh con thả giàn, rừng này có gì lấy đặt tên con đủ hết. Tao là Mắm, gọi Năm Mắm nghe tụi bay; con tao đứa Đước đứa Vẹt, đứa Chùm Gọng, Vọp, Ngác Ba Khía…”.
Vũ khí vào nhiều, bến thở không ra hơi, lớp lo bãi đậu, ngụy trang, vận chuyển vũ khí, lớp lo bãi kho cất giấu, lớp lo phân tán mỏng vũ khí, không thể tính hết những nỗi gian khổ của bến. Có chị vác thùng đạn L18, Z12 cả trăm ký, lội sình tới háng, nhổ chân lên không được mà miệng còn hát. Có chị lội sình, máu loang cả đám, tưởng ai bị thương, nhưng không, chị cười tươi: “Tao đang “bị” đấy mà! Ngâm sình ư! Có sao. Vệ sinh đã có nước mặn rừng đước giữ hộ, lo gì!”. Đơn vị phục vụ không có giờ nghỉ tay, còn chuẩn bị cả thực phẩm cho tàu trở ra, lo phụ với bộ phận chặt củi đước từng đống để chuyển xuống dằn tàu; khi khẩn cấp lại lao vào vận chuyển vũ khí, dời kho, mệt nhưng vui lắm.
Tối đến, cả tàu và bến còn tổ chức liên hoan văn nghệ. Giọng ca cổ ngọt mùi của Sáu Thùy, cùng hò mái nhì miền Trung hòa nhịp. Các anh Thân, Cớt, Thang người Thái Bình thì vừa hát chèo vừa gõ, vừa múa. Bắc – Trung – Nam ruột thịt đầy ắp nghĩa tình, con cháu Bác Hồ là đây!
Bác Hai Dĩa dặn dò chị em: “Các đồng chí nhớ, anh em trên tàu ai muốn ăn gì phải làm cho được nghe, chiều ý anh em. Họ ra khơi là muôn vàn gian lao nguy hiểm, biết có còn sống để lần sau vào đây mà ăn không!”.
Vẫn rộn tiếng cười
Trong gian khổ, bến và người Đất Mũi vẫn không thiếu vắng tiếng cười, hồn nhiên và dũng cảm, họ coi cái chết nhẹ như không. Ai đã từng ở đây mới biết nước ngọt quý hiếm như thế nào. Chị em ngày chỉ được một lon nước ngọt để tráng mình khi tắm xong nước mặn, trong những “ngày ấy” thì ưu tiên cho hai lon, tay cất nước ngọt mà không một ai vi phạm. Nước ngọt hiếm như thế đấy, vậy mà có anh miền Bắc trên tàu không số mới đến, ra ngay lu nước ngọt múc giội tắm. Thấy mà thương mà ngại không nỡ nói ngay, sau một chị đành tươi cười nói thật: “Các anh ơi! Nước ngọt ấy chúng em phải cất như cất rượu mới có đấy, để dành uống thôi!”.
Một bữa, nấu cất nước ngọt ngủ quên, khói lên từng cụm đọng đầy ngọn đước, sợ bị la rầy, chế Ba Đào trèo tít lên ngọn cây cao rung cho tan khói. Anh Khoảng người Hải Dương nhanh nhảu: “Ấy chết! Chị để em trèo cho, em ở nhà chuyên trèo cau hái cho bu em đấy!”. “Mấy anh không hay đó thôi, chị em phụ nữ ở bến đã quen leo cây, một tay dựng nhà chặt đước, lóc cột cái, cột nhì, lợp lá, có kém cánh thanh niên đâu”. “Chúng em vào bến này, cứ như được về nhà với mẹ ấy! Được chăm cho ăn uống bồi dưỡng đầy đủ, lại còn cho bao nhiêu thực phẩm lên tàu để ăn đường. Chúng em chỉ mong chuyến nào cũng được vào Vàm Lũng, vì nhớ các chị quá!”.
Chị Sáu Thùy cười vui: “Nhớ nhất thủy thủ Cớt người Thái Bình, trắng tươi như con gái, trẻ mặt búng văng sữa, bên tai tôi như còn nghe nó gọi: Chế Sáu ơi! Con cua leo cây kìa chế! Cớt gọi con ba khía là con cua leo cây. Thế mà Cớt đã không còn vào đây nữa để cho nó ăn ba khía. Cớt đã hy sinh cùng với con tàu rồi. Còn Phan Hải Hồ bị gãy xương ống chân, còn chiến đấu với tàu địch, da thịt nát hết, tôi đành phải cưa thêm một đoạn xương để khâu đầu da lại. Hồ vừa cười vừa mếu, kêu tôi là chị Sáu Thùy ơi, em to cao đẹp trai thế này, giờ cụt mất chân,  người yêu nó bỏ em mất thôi! Tôi an ủi: “Em ơi! Con gái Bắc mà, cô ấy sẽ càng thương em hơn đấy!”. Hải Hồ hỏi lại “Có thật không chị!..”. Hải Hồ chiến đấu dũng cảm lắm, thế mà tình cảm thì còn ngây thơ đến thế. Sau giải phóng được 4-5 năm, Hải Hồ từ Hải Phòng, có một chân mà lần vào tận bến Cà Mau tìm hài cốt đồng đội, những người của tàu không số trong đội săn tàu địch, nằm lại bến Cà Mau năm xưa, Hải Hồ tìm thăm tôi, chị em ôm chầm lấy nhau mà khóc ngất!…”.
Chứng kiến ngay trước mắt cảnh tàu ta chiến đấu ngoài khơi, cảnh tàu nổ… chiến sĩ hy sinh, các chị ôm nhau khóc nức nở. Chiến sĩ tàu không số săn tàu địch trên bến Nguyễn Thanh Loan, người Cát Bà Hải Phòng, bị thương, bị chúng bắt sống mổ bụng lấy gan, treo ruột lên cành đước. Chị Ba Đào khóc ngất, đau đớn như chính ruột thịt tim gan của mình bị xẻ ra từng mảnh khi lau rửa băng lại thi thể cho Loan. Nỗi đau ấy, lòng căm thù ấy, tiếp thêm nghị lực, thêm sức mạnh cho các chị, những chiến sĩ quân giải phóng, những người con kiên trung thành đồng Tổ quốc trên bến Vàm Lũng Đất Mũi Cà Mau, chiến đấu dũng cảm cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Nhà văn Mã Thiện Đồng
Kỳ 4: Đội săn tàu địch trong rừng đước mặn

Bình luận (0)