Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Đường Hồ Chí Minh trên biển: Kỳ cuối: Tình yêu Bến Thốc

Tạp Chí Giáo Dục

Đôi vợ chồng trẻ Xuân – Tâm năm 1965

Tôi đang mơ màng đứng trên Bến Thốc, tưởng như cuộc chia tay ngày ấy là của chính mình, cũng tình yêu với chàng hải quân dạt dào day dứt hiện về. Đồ Sơn một thoáng em qua/ Chưa tìm ra bóng Vạn Hoa nơi nào/ Em chưa kịp hỏi vì sao/ Chiều nay Bến Thốc hao hao sóng gầy/ Em chưa kịp hỏi câu này/ Gió từ đâu cứ đong đầy Bến Nghiêng!  (địa danh ở Đồ Sơn).
Đêm chia ly ngày ấy
Khi mới lần đầu hai đứa hẹn nhau ra Bến Thốc lộng trời trăng, người chiến sĩ hải quân của tôi cười tươi như cánh chim hải âu, chúng tôi cùng rực rỡ như cánh buồm đỏ thắm trên sóng biển xanh trong ký ức vỡ òa… Đồ Sơn ngày ấy, không ai được vào khu III, khu quân sự. Bây giờ mới biết đó là nơi các con tàu không số hằng đêm âm thầm đến đây “nhận hàng” rồi lặng lẽ ra đi. Bến K15 đấy, bí mật, tuyệt mật suốt thời kháng chiến chống Mỹ, nơi lặng thầm ghi dấu hàng trăm con tàu không số chở vũ khí vào Nam xuất phát từ đây.
Đơn vị cho nghỉ 7 ngày về cưới vợ, nhưng mới được 3 ngày, anh đã nhận lệnh về đơn vị gấp. Thế là chia tay, anh bảo: “Chúng ta còn trẻ, cống hiến trước đã”. Nhớ nhung bịn rịn nén sâu trong lòng, chuyện lứa đôi để đến ngày hòa bình. Đêm chia ly ngày ấy chỉ có lời hứa và hình ảnh in trong mắt mang theo.
“Tàu không số”, quân tư trang đều là không số, anh và đoàn thủy thủ 18 người cùng con tàu 187 chở 62 tấn vũ khí vào bến Ba Động tỉnh Bến Tre. Chuyện về một chuyến đi dài 10 năm ấy!
Chính trị viên Lê Công Thương (quê Nam Hà):
– Nhớ vợ sao mà tủm tỉm cười thế!
– Nhớ chứ, mới cưới có ba ngày, mới khám phá tình yêu Bến Thốc của chúng em!… Thủ trưởng ơi! Em chỉ nhớ hết đêm nay thôi!
– Đài BBC nó nói: “đến một con chim sẻ bay trên hải phận miền Nam, chúng cũng kiểm soát tới”. Tàu chúng ta sẽ đi ngoài tầm hải phận Việt Nam, đi theo một công nghệ mới, cả thiên văn và địa văn.
Sau 9 ngày lênh đênh trên biển, vòng vo giả dạng tàu buôn, vừa né tránh vừa “vẫy chào” Navy trên trời, 4 giờ chiều ngày 19-6-1966 tàu 187 thả trôi trên vùng Côn Đảo chờ trời xẩm là hướng vào đất liền. 3 giờ sáng tàu đã bắt được bờ. Thuyền phó Dương Tấn Kịch tính toán bằng thiên văn xác định:
– Cửa Ba Động kia rồi! Chỗ khoảng trống kia chắc chắn là cửa Ba Động.
Chính trị viên Hồ Đắc Thắng, người của bến khăng khăng:
– Không phải! Không đúng, nếu là cửa Ba Động, tôi xin đi bằng đầu.
Nghe ai bây giờ! Đây là quê Hồ Thắng, đã có chín chuyến anh vào đây rồi, phải nghe Hồ Thắng thôi. Tàu điện về xin ý kiến chỉ huy, chỉ huy cho lệnh: “Bắt dân”. Tàu lượn kiếm mãi mới được ghe hai cha con ông già, họ sợ hãi lạy như tế sao, ấp úng nói không ra lời. Vừa lúc đó trên trời máy bay xuất hiện, thả pháo sáng trắng rực trời, tàu ta lộ nguyên hình. Tất cả anh em trên tàu đều nhìn rõ trước tiên đó là cửa Ba Động ngay rất gần. Ôi thật tiếc! Giá như cứ theo Dương Tấn Kịch mà lủi tàu ngay vào cửa Ba Động thì đã nằm yên trong con lạch toàn dừa bao phủ kia là thoát rồi. Lê Công Thương thốt lên: Hồ Thắng ơi!… Là Hồ Thắng ơi! Sau này mới biết cũng không hoàn toàn lỗi ở ông Thắng, tại cây Hải Đăng ở Ô Cấp nó vừa nâng lên cao thêm 6m. Anh Thắng không sai vì tính theo địa văn, khi nhìn thấy đèn Ô Cấp, tức là chưa tới Ba Động. Lỗi này còn là của mấy anh tình báo trinh sát không kịp thông báo!
Tình yêu Bến Thốc trên đất Cần Thơ
Tàu địch đổ tới đen cả cửa sông, bao vây chặt phía ngoài, bắn đạn pháo xối xả về phía tàu ta. Các khẩu đội trên tàu 187 bắn máy bay bằng 12,7 ly, nhằm DKZ vào tàu địch được 3 phát thì tàu lao vào bãi, mắc cạn. Bộ tổng tham mưu lệnh cho “hủy tàu, bảo tồn bến”. Thuyền trưởng Phan Văn Xả, máy trưởng Vũ Xuân An cho điểm dây cháy chậm hủy tàu, anh còn đổ can xăng 20 lít xuống khoang hàng rồi lệnh cho thủy thủ bơi vào bờ. Tàu không nổ, ông Tư Mao phụ trách bến trong làn mưa pháo đạn nghiến răng đau xót nhìn tàu vũ khí vào gần đến nơi mà phải hủy, phải điều lực lượng bến dùng hai khẩu DKZ bắn 10 phát vào tàu, hủy không cho địch lấy. Nhưng tàu vẫn không nổ, chỉ cháy một góc, có lẽ đó là xăng cháy.
Sáng hôm sau trên bầu trời vàm Ba Động đen kịt từng bầy trực thăng, 15  tiểu đoàn quân Pắc Trung Hy đổ bộ chiếm giữ cửa Ba Động. Máy bay địch quần đảo bỏ bom, bắn như rải trấu xuống toàn vùng, kêu hàng. Lê Công Thương trúng đạn hy sinh, Trương Hoàng Minh hai chân đạp hầm chông. Phan Thanh Duyền lạc bến, ba ngày sau bến còn tìm thấy anh cuộn lá dừa nằm chờ chết. Trần Quang Phiêu trúng đạn gãy chân, bị địch bắt… Đoàn thủy thủ tàu 187 được nhân dân và Đoàn 962 tìm kiếm gom lại được 16 người đưa về căn cứ Giồng Lớn, Trà Cú, Trà Vinh, ở đây 3 tháng. Được Đoàn trưởng 962, bác Tư Mao dẫn đường tính vượt Đồng Tháp Mười sang Campuchia, qua Tây Ninh rồi ra Bắc, nhưng đường này bị tắc, đoàn lội ngược trở lại xuống Cà Mau. 10 năm ở Cà Mau tham gia vào đội săn tàu địch, riêng Đỗ Xuân Tâm được giao giữ tàu 69 vẫn đang nằm lại bến.
10 năm biền biệt tin anh, chị Xuân không biết anh ở tàu không số. Cho đến năm 1975, chị được Đoàn 125 đón xuống tàu có số vượt biển Đông. Người phụ nữ của Đồ Sơn mang nón lá miền Bắc, vào tận Cần Thơ gặp anh. Đôi chim bồ câu ngày ấy còn đây, 10 năm sau vẫn còn nguyên nụ cười tươi thắm lúc chia tay. Chào mừng ngày giải phóng, anh em đơn vị đưa chị lên xe tăng, chạy hết vòng thành phố Cần Thơ.
Nhà văn Mã Thiện Đồng
Nỗi vui sướng tràn ngập lòng người, vui hơn nữa là họ được gặp nhau, mang nguyên cảm giác ban đầu của tình yêu Bến Thốc trên đất Cần Thơ. Anh chỉ còn biết cám ơn đơn vị. Còn chị, Bí thư Đoàn thị xã Đồ Sơn, thay lời cám ơn bằng nụ cười sáng ngời như cánh hải âu chớp trắng. 
 

Bình luận (0)