|
Nhà thơ Nguyễn Duy. Ảnh: Tuy An |
Nhà thơ Nguyễn Duy, tác giả của nhiều bài thơ nổi tiếng, trong đó có Tre Việt Nam, Ánh trăng và Đò Lèn được đưa vào sách giáo khoa.
Bài thơ Tre Việt Nam được nhà thơ Nguyễn Duy viết năm 1969, khi ấy ông 22 tuổi, là bộ đội, đến năm 1971 mới hoàn thành bản thảo. Bài thơ đoạt giải I Cuộc thi thơ Báo Văn nghệ tổ chức năm 1972 và được in trong tập thơ đầu tay có tên Cát Trắng (NXB Quân đội, 1973) với 25.000 bản, một con số khá lớn so với thời điểm này.
45 năm Tre Việt Nam
Nhà thơ Nguyễn Duy không nhớ chính xác bài thơ Tre Việt Nam được đưa vào sách giáo khoa từ năm nào, chỉ nhớ là vào thập niên 80. Bài thơ ra đời đến nay ngót 45 năm, nó đã đi vào lòng của bao thế hệ học trò, từ nông thôn đến thành thị, từ biên giới đến hải đảo xa xôi. Nhưng câu chuyện khiến ông xúc động đến rơi nước mắt chỉ xảy ra cách nay vài năm, sau trận lụt lớn năm 2009 tại Phú Yên. Năm ấy Nguyễn Duy có mặt trong đoàn cứu trợ đồng bào lũ lụt tại thôn Hà Bằng, xã Xuân Sơn Bắc, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Nhà thơ nhớ lại: “Nơi chúng tôi đến là một ngôi trường tiểu học bị cát vùi lấp cả thư viện, bàn ghế, tất cả là một đống đổ nát. Lũ vừa rút đi, thầy và trò cố gắng tìm lại những cuốn sách, cuốn sổ trong bùn lầy để mang phơi. Trong số những quyển sách nhàu nát rách bươm, có cuốn sách Tiếng Việt lớp 4, tập 1 lật đúng trang có bài Tre Việt Nam. Doanh nhân, nhà văn Nguyễn Tiến Toàn (chủ doanh nghiệp Xe lắc, xe lăn tay Kiến Tường) hỏi bọn trẻ: “Các cháu có biết bài thơ Tre Việt Nam là của ai không?”. Bọn trẻ đồng thanh: “Dạ của nhà thơ Nguyễn Duy”. “Vậy có biết Nguyễn Duy là ai không?”. “Dạ thưa không?”. “Đây, bác Nguyễn Duy đây”, nhà văn Nguyễn Tiến Toàn thông tin. Ngay lập tức, bọn trẻ vây quanh tôi và cùng đọc bài thơ Tre Việt Nam không sai một chữ, tôi xúc động quá”.

Trăng – người bạn tri kỷ
Ngoài Tre Việt Nam, Nguyễn Duy còn có bài thơ Ánh trăng cũng được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 1. Theo tác giả, bài thơ này ông viết năm Mậu Ngọ 1978 tại Sài Gòn. Lúc bấy giờ ông sống tại lầu 3 khu tập thể Hội Văn nghệ giải phóng, số 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Q.3). Năm 1975, ông chuyển về đó, là căn nhà của cố vấn dân sự Mỹ có tiện nghi khá đầy đủ, gồm giường, tủ lạnh, bếp gas, thang máy. Tuy nhiên một thời gian sau (khoảng 1977), thang máy không hoạt động vì cắt điện, sau đó (1978) là cắt điện luân phiên. Một thời gian dài sống ở Sài Gòn, vô tình không để ý đến trăng. Một hôm mất điện, ông mở cửa sổ ra và vô tình thấy trăng soi sáng vằng vặc. Ký ức tháng ngày ở rừng với anh em, đồng đội lại hiện về. Ông vội chong đèn viết bài thơ này. Bài thơ có ý trách cứ bản thân mình vô tâm, vô tình, quên đi đời sống người lính gian khó ở rừng. Bài thơ cũng là lời thầm nhắc về thái độ sống nghĩa tình, chung thủy, trân trọng quá khứ.

Với tác giả, trăng là người bạn tri kỷ: “Hồi nhỏ sống với đồng/ Với sông rồi với bể/ Hồi chiến tranh ở rừng/ Vầng trăng là tri kỷ… Trần trụi với thiên nhiên/ Hồn nhiên như cây cỏ/ Ngỡ không bao giờ quên/ Cái vầng trăng tình nghĩa/ Từ hồi về thành phố/ Quen ánh điện của gương/ Vầng trăng đi qua ngõ/ Như người dưng qua đường/ Thình lình đèn điện tắt/ phòng buyn-đinh tối om/ Vội bật tung cửa sổ/ Đột ngột vầng trăng tròn/ Trăng cứ tròn vành vạnh/ Kể chi người vô tình/ Ánh trăng im phăng phắc/ Đủ cho ta giật mình”.
Bài Ánh trăng được đưa vào sách giáo khoa đầu năm 90. Sau rất nhiều nhạc sĩ phổ nhạc nhưng không được phổ biến. Cùng chung số phận với nó là bài thơ tình Sông Thao.
Bà ngoại Đò Lèn
Ba miền Bắc – Trung – Nam có rất nhiều nhà văn, nhà thơ có bài được NXB Giáo dục chọn đăng trong sách giáo khoa. Trong số ấy có người đã trở thành người thiên cổ nhưng chưa có một tác giả nào có bài được đưa vào sách giáo khoa ở cả ba bậc học như nhà thơ Nguyễn Duy. Một trong những bài thơ nổi tiếng của tác giả được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 12 là Đò Lèn. Nhà thơ chia sẻ, tôi sinh ra ở miền quê nông thôn Thanh Hóa, nơi có bến đò tên Lèn. Đò Lèn viết về bà ngoại của chính tác giả vào đầu những năm 1980 và được đưa vào sách giáo khoa sau hai bài Tre Việt Nam và Ánh trăng. Lại là sự vô tâm vô tình của nhà thơ: “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế/ Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan/ Bà đi gánh chè xanh Ba Trại/ Quán cháo Đồng Giao thập thững những đêm hàn”… Để rồi, ngày trở về bên mộ ngoại: “Tôi đi lính lâu không về quê ngoại/ Dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi/ Khi tôi biết thương bà thì đã muộn/ Bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi”.
Thơ Nguyễn Duy được sinh viên, nghiên cứu sinh Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH Sư phạm Huế, ĐH Đà Lạt; ĐH KHXH&NV Hà Nội; ĐH KHXH&NV TP.HCM… chọn làm luận văn ĐH, sau ĐH.
Trần Trọng Tri
| Nhà thơ Nguyễn Duy từng đoạt các giải thưởng nổi bật: Giải I thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1973; loại A về thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007… |


Bình luận (0)