|
Nhà văn Mạc Ngôn |
Giải Nobel của Viện Hàn lâm văn học Thụy Điển có từ năm 1901 và đến nay (2013) đã có lịch sử 112 năm. Một quốc gia có nền văn học hiện thực và đương đại lớn của châu Á và thế giới mà mãi đến năm 2012 lần đầu tiên Trung Quốc mới có giải Nobel về văn học. Qua nhiều lần trầy trật năm 2012 vinh dự to lớn mới đến với Trung Quốc mà người xứng đáng đó là Mạc Ngôn – nhà văn chủ nghĩa hiện thực mới của Trung Quốc trong thời đại mới.
Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh ngày 17-2-1955, người thôn Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, xuất thân trong một gia đình nông dân tương đối lớn. Cha của ông đã học mấy năm ở trường tư thục, có đầu óc phong kiến rất nặng và có nhiều con đến 13 nhân khẩu nhưng chỉ có 4 người con còn sống. Vì đông con, bảo thủ, lạc hậu nên gia đình của Mạc Ngôn rất nghèo và có nhiều mâu thuẫn. Sau khi “cách mạng văn hóa” xảy ra (1966) Mạc Ngôn đang học tiểu học phải bỏ học, ở nhà chăn trâu, cắt cỏ và rất ham thích đọc sách. Trong làng nhà nào có nhiều sách Mạc Ngôn đều mượn để đọc. Mạc Ngôn là đứa trẻ thích nói chuyện, giỏi bắt chước và có trí nhớ rất tốt. Tuy vậy cậu bé Mạc Ngôn vẫn là đứa trẻ cô độc, nhút nhát.
Mạc Ngôn là nhà văn có bản lĩnh và thông minh từ thuở thiếu thời. Từ nhỏ ông là đứa trẻ nghịch ngợm, lao động giỏi, thích đọc sách, thích nghe kể chuyện dân gian và lịch sử. Ông hiểu sâu sắc cuộc sống lam lũ, cùng khổ của người nông dân và nông thôn – nhất là vùng Cao Mật của ông. Làng ông cách làng của nhà văn Liêu trai chí dị Bồ Tùng Linh không xa. Tỉnh Sơn Đông – quê hương ông cũng là nơi phát xuất của cuộc khởi nghĩa 108 vị anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc được miêu tả trong Thủy Hử. Khái niệm “Cao Mật Sơn Đông” mà ông xây dựng nên trong tác phẩm là khái niệm văn học, chứ không phải khái niệm địa lý.
Mỗi nhà văn có một vùng đất thì quê hương Cao Mật của Mạc Ngôn là nơi máu thịt đã sản sinh và nuôi dưỡng ông trong hơn 20 năm. Thiên tài quân sự Pháp Napôlêông có quê hương là đảo Coócxơ. Nhà văn Nga Sôlôkhốp có vùng nước sông Đông, thảo nguyên Cô-dắc. Mạc Ngôn cũng vậy – mảnh đất cuộc đời và vùng đất văn học của ông là Cao Mật. Không gian, thời gian và con người trong Gia tộc Cao lương đỏ, Báu vật của đời đều là chuyện Đất và người Cao Mật của Mạc Ngôn. Mạc Ngôn đau khổ buồn thảm về sự nghèo khổ dốt nát của quê hương Cao Mật nhưng ông cũng rất đỗi thân thương và tự hào về nó. Cái “mảnh đất tình người đó” không có nó thì sẽ không có ông – một nhân tài văn học. Mạc Ngôn sống ở quê hương 20 năm. Trước khi rời quê hương Mạc Ngôn “không cảm thấy nơi này đáng quí thậm chí còn cảm thấy nơi đây thật buồn tẻ”. Ba năm sau về thăm quê tình cảm của ông hoàn toàn đổi khác. Dòng sông, cánh đồng thân quen hiện lên trong con mắt của ông. Đó là nơi giáp ranh của 3 huyện. Hơn 80 năm về trước nơi đây dân cư thưa thớt, dân rất nghèo, sống rất lam lũ và chật vật. Những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ 20) quê hương của Mạc Ngôn luôn luôn lũ lụt. Là con em nông dân và xuất thân từ nông thôn Mạc Ngôn luôn có ý thức phản ảnh những vấn đề lịch sử, địa lý, phong tục tập quán của quê hương. Cao lương đỏ, Đàn hương hình hay Cây tỏi nổi giận đều là những hiện thực lịch sử của quê hương ông ở nhiều thời điểm khác nhau. Đàn hương hình là lịch sử của thời nhà Thanh, Cao lương đỏ là lịch sử chiến tranh chống Nhật.
Các nhà văn đương đại Trung Quốc đều gắn bó máu thịt, sống và viết với một vùng đất. Có người không phải là quê nơi chôn nhau cắt rốn của mình nhưng vì hoàn cảnh mà gắn bó và coi nơi đó là quê hương thân yêu của mình. Điều quan trọng hơn họ đã biến nơi ấy thành quê hương, thành một vùng đất để sáng tác văn học. Nhà văn Vương Mông, người Bắc Kinh nhưng sống gắn bó và sáng tác về vùng Tân Cương xa xôi. Nhà văn Trương Hiền Lương quê ở tỉnh Giang Tô nhưng cả cuộc đời sống và viết ở tỉnh Ninh Hạ thuộc vùng Tây bắc. Nhà văn Giả Bình Ao – người con của tỉnh Thiểm Tây luôn luôn suy nghĩ và sáng tác về vùng đất khô cằn, gian khó của quê hương mình. Trường hợp nhà văn nổi tiếng Mạc Ngôn, hình như các tác phẩm của ông đều là con người, sự việc và sự vật về quê hương Cao Mật, tỉnh Sơn Đông ở vùng Đông Bắc Trung Quốc với nhiều biến động lịch sử và xã hội lớn lao.
Thời thơ ấu của ông là ở đồng quê Cao Mật nghèo khó, cả nhà làm lụng vất vả mà chẳng đủ ăn. Cuộc đấu tố, cải tạo có ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tuổi niên thiếu cắp sách đến trường của ông. Năm 1976 “cách mạng văn hóa” sắp kết thúc Mạc Ngôn gia nhập quân đội. “Cách mạng văn hóa” chấm dứt được mấy năm cả nước hân hoan bước vào thời kỳ mới sau “10 năm động loạn” (chỉ 10 năm cách mạng văn hóa) Mạc Ngôn cảm hứng từ hiện thực, từ con người thực và việc thực của quê hương ông bắt đầu sáng tác văn học. Đó là vào năm 1981 tác phẩm đầu tay Củ cải trong suốt của ông được ra đời. Tác phẩm không dài của một người tuổi đời và tuổi nghề còn rất ít nhưng được dư luận chú ý.
Câu chuyện của Củ cải trong suốt bình dị, cách miêu tả của tác giả cũng tự nhiên nhưng nó đưa đến cho người đọc một nhận thức mới về những gì xảy ra ở nông thôn. Từ Củ cải trong suốt và sau này là Cao lương đỏ hay Cây tỏi nổi giận Mạc Ngôn vẫn tiếp tục văn mạch khai thác về con người và hiện thực của quê hương ông. Năm 1988 dựa vào tài năng và nguyện vọng ông được cấp trên cử đi học tại Học viện Văn học Lỗ Tấn thuộc Trường ĐH Bắc Kinh. Năm 1991 Mạc Ngôn tốt nghiệp học viện với học vị thạc sĩ văn học. Hiện thực nông thôn phong phú lại được trang bị về lý luận, con đường sáng tác văn học của Mạc Ngôn rất rộng mở. Trở về quân ngũ Mạc Ngôn công tác tại Cục Chính trị quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Mặc dù làm công tác tuyên huấn, tư tưởng viết báo trong quân đội nhưng ý nguyện của Mạc Ngôn vẫn là sáng tác văn học, đề tài mà ông vẫn hằng ấp ủ, đó là con người, sự việc, sự vật và lịch sử của quê hương ông – vùng đất Cao Mật. Hai tiếng Cao Mật đối với ông thân thương và gắn bó vô cùng. Cũng vì văn học, vì quê hương hiện nay Mạc Ngôn không còn là quân nhân đã trở thành một nhà văn chuyên nghiệp chuyên viết về nông thôn – cụ thể là vùng nông thôn Cao Mật. Cũng nhờ bộ phim Cao lương đỏ do Trương Nghệ Mưu đạo diễn và Củng Lợi thủ vai diễn được giải thưởng điện ảnh lớn nên vùng quê Cao Mật của Mạc Ngôn đã vượt biên giới đi ra khắp thế giới. Từ đó 2 tiếng “Mạc Ngôn” gắn liền với 2 tiếng “Cao Mật”.
Trong tác phẩm Cao lương đỏ Mạc Ngôn đã viết về vùng quê Cao Mật của ông bằng một đoạn văn chân thực và nhiều cảm xúc như sau: “Ôi Cao Mật, nơi tôi yêu nhất và cũng là nơi tôi ghét nhất, mãi sau này lớn lên học hành, giác ngộ, tôi mới hiểu ra không nơi nào trên trái đất đẹp nhất và xấu nhất như Cao Mật, cực kỳ siêu thoát và cũng cực kỳ thế tục, sạch sẽ nhất và bẩn thỉu nhất, anh hùng hảo hán nhất và đầu trộm đuôi cướp nhất, nơi biết uống rượu nhất và cũng là nơi biết yêu đương nhất. Cao Mật với bạt ngàn cao lương đỏ, huy hoàng, dào dạt, uyển chuyển và dậy sóng biết bao”.
Điều còn mất và trong trái tim của Mạc Ngôn về quê hương ông ở Cao Mật là có 2 cái “cực” rất rõ. Hai cái “cực” này đối lập, rồi về hòa lẫn, gắn kết vào nhau là để thành một vùng đất dữ dội, hiền hòa và rất riêng. Mạc Ngôn tự hào với quê hương bao nhiêu thì ông cũng là người chán ghét cái quê hương đáng yêu, tội nghiệp ấy bấy nhiêu. Đọc lại tác phẩm sẽ hiểu tấm lòng và thái độ của Mạc Ngôn đối với quê hương – đó là thái độ, tình cảm yêu ghét rõ ràng. Nguyên nhân tạo nên thái độ “tôi yêu nhất” và “tôi ghét nhất” của tác giả – người con của Cao Mật chính là con người. Con người làm nên hạnh phúc, tự hào và con người tạo nên đau khổ và bất hạnh.
PGS. Hồ Sĩ Hiệp


Bình luận (0)