Không phải ngẫu nhiên, ngày 6-12-2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Nam” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bởi lẽ, tín ngưỡng này đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, một đạo lý nhân sinh của dân tộc.

Giỗ tổ Hùng Vương năm 2020 được tổ chức quy mô cấp quốc gia nhằm tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc
Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt…
Xuất phát từ đạo lý biết ơn và tin vào linh hồn của tổ tiên đã hình thành nên một tín ngưỡng rất đặc sắc và phổ biến nhất của người Việt, đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Tín ngưỡng này đã chi phối sâu sắc trong nếp nghĩ, lối sống, phong tục tập quán và hình thành nên đường nét, diện mạo văn hóa tinh thần của dân tộc.
Điều thú vị là, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nước ta, không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, gia tộc, mà còn được song hành cùng với cả nước. Ra khỏi phạm vi gia đình, đến cộng đồng làng xã, người Việt thờ cúng tổ tiên theo từng làng, đó là tục thờ Thành Hoàng làng, vị thần bản mệnh của cộng đồng. Các vị thần làng có thể là các vị tổ sư các nghề, người có công lập làng, dựng làng, có công với đất nước, các danh nhân văn hóa… Đặc điểm này đã tạo nên nét đặc trưng độc đáo trong tín ngưỡng Việt Nam là mang tính dân tộc, vì dân vì nước. Hầu hết các vị thánh thần được thờ phải là người có công với nước, với dân. Đó là chuẩn mực có tính phổ quát.
Đặc biệt hơn, vượt ra khỏi cộng đồng làng xã, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên biểu hiện một hình thức thờ tự độc đáo đó là thờ cúng vua Hùng – xem là thủy tổ Việt Nam. Trên thế giới không có quốc gia nào lại không có những câu chuyện về khởi nguyên dân tộc, người lập quốc đầu tiên, nhưng ngay cả những nước có những nền văn minh sớm trong lịch sử nhân loại (Ai Cập, Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc…) đến nay cũng không có người nào được tôn thờ sùng bái làm vị tổ của mình. Riêng Việt Nam, các vị vua Hùng được dân tộc ta tôn thờ là Quốc tổ, có công gây dựng cơ đồ nước Việt, để lại cho chúng ta một quốc gia tươi đẹp, giàu bản sắc, dũng cảm, nghĩa tình… Và cứ đến ngày Giỗ tổ mùng 10 tháng 3, tất cả những người dân Việt dù ở đâu cũng hướng về đất tổ với tấm lòng thành kính, tri ân tổ tiên, Đức Quốc tổ Hùng Vương, thấm đẫm một đạo lý biết ơn, “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
… Đến tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
Không phải ngẫu nhiên, nhân dân miền Nam đặt tên những dòng sông chính là Cửu Long Giang, chính là để nhớ về nguồn gốc Con Rồng cháu Tiên của mình. Dân tộc ta có câu: “Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày Giỗ tổ mùng mười tháng ba”. Hàng năm, hàng chục triệu người trên khắp đất nước vẫn hành hương về nguồn cội, về quê cha đất tổ dâng hương tưởng niệm vua Hùng, thăm viếng kỳ thú núi sông, nhận biết tôn miếu đền đài núi Lĩnh, vì một nhu cầu tâm linh sâu xa mà thiết yếu. Bởi lẽ, họ xuất phát từ ý niệm thiêng liêng hai tiếng đồng bào. Sự thiêng liêng ấy đã tạo nên tình cảm nhớ về cội nguồn của người Việt khi phải tha hương góc bể chân trời “chim có tổ, người có tông”, một tình cảm gắn kết “gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”… Ngày Giỗ tổ hằng năm là ngày hội chung của toàn dân, ngày mà mọi trái tim dù đang sống và làm việc ở muôn nơi vẫn đập chung một nhịp, mọi cặp mắt đều nhìn về cùng một hướng. Có thể thấy đây là sự kiện văn hóa đặc biệt thể hiện sự thống nhất về không gian văn hóa (đền vua Hùng), thời gian văn hóa (mùng 10 tháng 3) và chủ thể văn hóa (54 dân tộc anh em), là nơi hội tụ văn hóa tâm linh, ý thức về nguồn cội.
Không phải ngẫu nhiên, ngày 6-12-2012, UNESCO đã chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Việt Nam” là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, bởi lẽ, tín ngưỡng này đã nêu rõ giá trị của di sản là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên, một đạo lý nhân sinh của dân tộc. Theo đánh giá của các chuyên gia USNECO, “Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng” đã đáp ứng được tiêu chí quan trọng nhất trong 5 tiêu chí, đó là, di sản có giá trị nổi bật mang tính toàn cầu, khích lệ ý thức chung của mọi dân tộc trong việc thúc đẩy giá trị về tâm thức cội nguồn, đó là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết và nguồn cội của sức mạnh cộng đồng.

Tác giả dâng hương tại Đền thờ vua Hùng
Như vậy, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng vua Hùng đã thể hiện một đạo lý Việt Nam – đạo lý biết ơn với nguồn cội từ trong gia đình, dòng tộc đến xóm làng và chung cả nước. Mỗi khi thắp nén nhang nghĩ về nguồn cội, nơi ông bà tổ tiên đang sống, là được trở về cái thiêng liêng của cộng đồng: Gia đình – làng – nước. Dường như quá khứ và hiện tại như quyện vào nhau, để từ đó có một động lực thúc đẩy, vươn tới tương lai, đến chân thiện mỹ với quyết tâm kế thừa và phát huy công lao giữ nước và dựng nước của tiền nhân. Nó có tác dụng bảo vệ danh dự cho những người cùng cộng đồng. Về phương diện đạo đức, khích lệ con cháu làm điều tốt lành, gắng trở thành người có ích cho xã hội, làm vẻ vang cho dòng họ, cộng đồng và quốc gia. Ấy là giá trị tâm linh mà thờ cúng tổ tiên có được, để mãi mãi đời đời tồn tại, là một hằng số thiêng liêng bền vững, cấu kết văn hóa gia đình Việt từ bao đời nay.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vượt qua mối quan hệ huyết thống, biên giới địa lý, tôn giáo, dân tộc và ngày Giỗ tổ Hùng Vương đã vượt ra khỏi tín ngưỡng dân gian để trở thành di sản của nhân loại. Tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng không có biên giới riêng mà là biên giới cộng đồng. Đó là điều căn bản triết lý để hình thành một quốc gia thống nhất. Trong tâm thức nguồn cội của người Việt – tín ngưỡng thờ cúng vua Hùng – Giỗ tổ Hùng Vương là điểm đồng quy về ý thức cộng đồng – quốc gia – dân tộc. Văn hóa ấy, nền tảng đạo lý ấy ngày càng được củng cố, phát triển đã trở thành lẽ sống, đạo đức, niềm tin cho các thế hệ người Việt và trở thành sức mạnh vô song của cộng đồng Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa đang diễn ra trong thời đại ngày nay.
ThS. Nguyễn Hiếu Tín

Bình luận (0)