Trong bối cảnh các địa phương miền núi đang chuyển mình theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội mới, bài toán đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ trở nên cấp thiết. Với học sinh dân tộc thiểu số, hướng nghiệp không chỉ là lựa chọn ngành học mà còn là con đường để thoát nghèo, quay về phục vụ và góp phần phát triển quê hương bền vững. Thực tiễn tại nhiều trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường miền núi cho thấy, công tác này đang được triển khai với nhiều nỗ lực, song vẫn còn không ít rào cản cần tháo gỡ.

Gắn hướng nghiệp với thực tiễn địa phương
Tại các trường miền núi, hướng nghiệp không còn dừng lại ở những tiết học lý thuyết. Nhiều cơ sở giáo dục đã chủ động mở rộng không gian trải nghiệm, đưa học sinh đến gần hơn với đời sống sản xuất và nhu cầu lao động thực tế. Ở Trường THPT Hướng Phùng (Quảng Trị), bên cạnh chương trình hướng nghiệp chính khóa, nhà trường phối hợp với các đơn vị sản xuất trên địa bàn để tổ chức hoạt động trải nghiệm. Việc kết nối với Trung tâm cây giống, hoa tại khu vực Đèo Sa Mù không chỉ giúp học sinh quan sát mô hình trồng trọt mà còn góp phần hình thành nhận thức về một hướng sinh kế gắn với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng địa phương.
Tương tự, tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú THCS&THPT Nam Trà My (Đà Nẵng), việc đưa học sinh tham quan các vườn sâm Ngọc Linh đã mở ra cách tiếp cận mới trong giáo dục hướng nghiệp. Thông qua trải nghiệm thực tế, học sinh hiểu rõ hơn về chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, từ đó hình dung được những vị trí việc làm cụ thể ngay tại quê hương.
Ở Trường Phổ thông dân tộc nội trú THPT tỉnh Quảng Ngãi, công tác hướng nghiệp được tổ chức theo hướng bài bản hơn. Ngay từ lớp 10, việc lựa chọn tổ hợp môn học được gắn với từng nhóm ngành nghề cụ thể. Học sinh không chỉ được cung cấp thông tin về các ngành đào tạo mà còn được định hình lộ trình học tập và cơ hội nghề nghiệp sau này. Cùng với đó, nhà trường chủ động kết nối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các trường đại học, cao đẳng và cả doanh nghiệp để đa dạng hóa kênh thông tin. Hoạt động tham quan thực tế tại các cơ sở đào tạo, như Trường Cao đẳng Kỹ nghệ Dung Quất, giúp học sinh trực tiếp quan sát môi trường học tập, hệ thống xưởng thực hành, từ đó có cái nhìn cụ thể hơn về nghề nghiệp.

Một điểm đáng chú ý là xu hướng gắn hướng nghiệp với nhu cầu nhân lực tại địa phương. Nhiều trường đã phối hợp với chính quyền để nắm bắt nhu cầu tuyển dụng trung và dài hạn. Từ đó định hướng học sinh theo các ngành thiết yếu như giáo dục, y tế, nông – lâm nghiệp hay kỹ thuật. Thực tế cho thấy, những ngành như sư phạm mầm non, tiểu học, điều dưỡng hay kỹ thuật hệ cao đẳng vẫn là lựa chọn phổ biến đối với học sinh dân tộc thiểu số. Đây là những lĩnh vực có khả năng quay trở về phục vụ địa phương, góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh đó, mô hình phối hợp “ba bên” giữa nhà trường – chính quyền – doanh nghiệp đang dần hình thành. Doanh nghiệp cung cấp thông tin tuyển dụng và đồng hành trong đào tạo và tiếp nhận lao động sau tốt nghiệp. Đây được xem là hướng đi quan trọng để bảo đảm đầu ra việc làm, đồng thời nâng cao tính thực chất của công tác hướng nghiệp.
Những rào cản cần tháo gỡ
Dù có nhiều chuyển biến tích cực, công tác hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số vẫn đối mặt với không ít khó khăn. Trước hết là hạn chế về thị trường việc làm tại địa phương. Ở nhiều vùng miền núi, cơ hội việc làm chưa đa dạng, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, khiến việc định hướng nghề nghiệp gặp nhiều trở ngại. Trong bối cảnh đó, trường buộc phải tư vấn theo hướng mở, giúp học sinh tìm kiếm cơ hội ở các khu công nghiệp hoặc các địa phương phát triển hơn. Một vấn đề khác là nhận thức nghề nghiệp của học sinh còn hạn chế. Nhiều em có xu hướng lựa chọn các ngành quen thuộc, ít tiếp cận thông tin đa chiều về thị trường lao động. Việc quyết định tổ hợp môn học hay ngành nghề trong tương lai vì thế trở nên lúng túng, thiếu căn cứ. Rào cản về ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh và CNTT cũng là yếu tố đáng lưu ý. Đây là điều kiện gần như bắt buộc nhưng với nhiều học sinh vùng cao, ngoại ngữ và CNTT chưa phải là thế mạnh, dẫn đến tâm lý e dè khi tiếp cận các ngành nghề có yêu cầu cao hơn.
Theo ban giám hiệu các trường, để tháo gỡ những rào cản này, cần có những giải pháp đồng bộ, mang tính dài hạn. Trước hết, công tác hướng nghiệp phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Việc dự báo nhu cầu nhân lực cần được thực hiện một cách khoa học, làm cơ sở cho định hướng đào tạo. Các địa phương cần chủ động xây dựng “bản đồ nghề nghiệp”, giúp nhà trường và học sinh có căn cứ cụ thể trong lựa chọn ngành học.
Sự tham gia của doanh nghiệp có vai trò quan trọng, hỗ trợ nhà trường trong đào tạo, từ xây dựng chương trình, tổ chức thực tập đến tuyển dụng. Khi học sinh nhìn thấy rõ “đầu ra”, việc lựa chọn nghề nghiệp sẽ trở nên thực tế và thuyết phục hơn. Chú trọng nâng cao năng lực ngoại ngữ và kỹ năng mềm cho học sinh dân tộc thiểu số. Đây là nền tảng quan trọng để các em có thể tiếp cận những ngành nghề mới, có giá trị gia tăng cao trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập.
“Hướng nghiệp cho học sinh dân tộc thiểu số không thể làm theo cách chung chung hay chạy theo xu hướng. Đó phải là quá trình gắn chặt với thực tiễn địa phương, dựa trên năng lực của từng học sinh và sự đồng hành của nhiều chủ thể. Khi nhà trường, chính quyền và doanh nghiệp cùng vào cuộc, những lựa chọn nghề nghiệp sẽ không còn mơ hồ mà trở thành những con đường rõ ràng, khả thi để nơi mỗi học sinh có thể chọn lựa”, thầy Nguyễn Hữu Thịnh – Trường THPT Hướng Phùng (Quảng Trị) nói.
Phan Vĩnh Yên

Bình luận (0)