Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Huyền thoại chiến dịch Khe Sanh: Kỳ 1: Gặp người “cõng xe tăng” vào trận tuyến

Tạp Chí Giáo Dục

Chuyện kể của già Hồ A Máng

Già làng Hồ A Máng (phải) đang kể lại những lần cõng phụ tùng xe tăng vượt sông vào chiến trận. Ảnh: Vĩnh Yên
“Những năm cuối thập niên 60 của thế kỉ trước, bố tham gia tải đạn vượt dòng Sê Pôn, từ nước bạn Lào xuôi về xã Thuận rồi từ đó băng rừng, lội suối vào đánh trận Làng Vây (Khe Sanh). Trên bầu trời, máy bay Mỹ tối ngày quần lượn, dưới đất lính bộ binh được trang bị phương tiện chiến tranh hiện đại nhất. Vậy mà nó không ngờ được, những người thanh niên như bố và đồng đội chỉ đi chân đất, cõng phụ tùng xe tăng trên vai cũng đánh tan cứ điểm Làng Vây”, già Hồ A Máng (80 tuổi) tự hào nhớ lại.
Con đường dẫn về xã Thuận – một trong 7 xã thuộc vùng Lìa nằm về phía Tây Nam huyện Hướng Hóa hiện đang được trải nhựa phẳng phiu. Tiếp chúng tôi trên bậc thang dẫn vào nhà sàn, già Hồ A Máng cười thật tươi: “Mấy ngày ni bố được gặp nhiều đồng đội tới thăm vui cái bụng lắm. Năm nào cứ gần đến ngày kỉ niệm chiến thắng Khe Sanh là bố như được sống lại cái thời tuổi đôi mươi của mình”. Đôi mắt ông đăm đăm nhìn vào khoảng rừng xanh rờn trước mặt nhà: “Chỗ đó, bên dưới dãy núi là dòng sông Sê Pôn – con sông chảy ngang ranh giới hai nước Việt – Lào. Hồi đánh trận Làng Vây, bố cùng đồng đội đã cõng phụ tùng xe tăng vượt sông để vào Khe Sanh”. Kí ức 45 năm về trước như chợt ùa về, ở vào cái tuổi ngoài 80, già A Máng trông vẫn còn cường tráng và rất khí thế khi nhắc đến cuộc chiến lẫy lừng từng đi vào lịch sử như một trận “Điện Biên Phủ thứ 2” làm chấn động thế giới, buộc Hoa Kỳ phải ngồi vào bàn đàm phán Paris. Đó là vào thời điểm năm 1968, khi Mỹ – ngụy dồn hết lực lượng vào xây dựng Làng Vây thành một cứ điểm quan trọng án ngữ cửa ngõ phía Tây (từ Lào về), đồng thời là tuyến phòng thủ chiến lược đường 9. Suốt ngày đêm máy bay quần lượn trên bầu trời. Dưới đất lính bộ binh dày như giặc cỏ. Các phương tiện hiện đại như cây nhiệt đới có chức năng thu tiếng người phát tín hiệu kêu gọi máy bay thả bom được địch rải dày đặc các khu rừng. Địch dự định biến Khe Sanh thành chốn địa ngục trần gian.
Đêm 6 rạng ngày 7-2-1968, quân giải phóng tấn công giải phóng Làng Vây. Điều đặc biệt nhất trong trận này là tham gia giải phóng có hai đại đội xe tăng. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường miền Nam, bộ đội xe tăng quân giải phóng xuất kích tham gia vào một trận đánh hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn.
Ngừng lại giây lát, già Hồ A Máng nói giọng hào sảng: “Địch mạnh đến thế mà ta vẫn thắng. Hồi đó bố đang là du kích, chuẩn bị chiến dịch Làng Vây bố đã cùng với các đồng đội trong xã như Pả Giỏ, Bả Cưm, Pả Cun… ngày đêm băng rừng vượt sông sang đất bạn Lào. Chỗ đó xe tăng của mình tập kết nhưng nước sông sâu không thể chạy qua. Bố và các cô các chú tháo phụ tùng xe ra, bỏ vào bao vác lên vai, nước ngập ngang cổ vẫn cứ đi. Phần nào xe nặng quá thì cùng nhau kết bè nứa để chuyển qua. Kể cũng lạ, B52 trên đầu, bom mìn dưới đất thế mà anh em vẫn đi ngày, đi đêm, hết luồn rừng lại lội suối vẫn không hề hấn gì”. “Cũng có lúc cơn mưa rừng bất chợt ào đến, nước lũ ngùn ngụt cuốn phăng, bố cõng phụ tùng trên vai bám lấy từng gốc cây, thân hình ướt sũng. Suốt từ sáng đến tối mặc mỗi bộ quần áo dính bết bùn đất có khi nửa đêm mới gùi được phụ tùng vào trận địa. Gian khổ thế nhưng bố không hề nghĩ tới việc bỏ cuộc, lúc đó cứ nghĩ tới ngày đánh thắng giặc Mỹ để được tự do đi lại, để tự do trồng cây lúa cho con cái no cái bụng. Thế là đi!”, già Hồ A Máng khẳng khái. Chúng tôi hỏi già A Máng: “Mỗi ngày vượt sông bao nhiêu lần?”. Già Máng đổi tư thế, đưa tay chỉ về phía dòng Sê Pôn cười sảng khoái: “Tuổi thanh niên bố đi như con thú rừng không biết mỏi. Khi nào có lệnh của các đồng chí bộ đội là bố cứ thế vượt sông gùi cõng phụ tùng xe tăng, đạn dược vào chiến trường thôi”.
Người lính Cụ Hồ trong thời bình
Trở về sau ngày hòa bình, với bản chất của người lính Cụ Hồ, già A Máng lại bắt tay vào phát triển kinh tế. Ở vào cái tuổi ngoài 80, mỗi ngày ông vẫn cặm cụi lên nương. Một mình ông còn đào hồ thả cá. Ông bảo, tuy cái chân đã run, đôi mắt mờ hơn trước nhưng được sống trong hòa bình là sướng rồi. Lo làm ăn để phụ các con nuôi cháu đến trường học cái chữ. “Đời bố chỉ biết lăn tay trên vết mực nhiều khi cũng bất tiện lắm. So với thời bố, bây chừ cuộc sống sướng hơn rồi. Người già, con trẻ đều được Nhà nước quan tâm. Bố còn cái sức nên bố phải làm lụng lo cho các cháu học. Hết chiến tranh bom đạn rồi, phải học để tiến kịp người ta”. Nói rồi, già Hồ A Máng xốc bao cỏ lên vai bước đi vững chãi: “Đến giờ rồi, bố đi cho lũ cá ăn”.
Nhìn theo dáng đi xăng xái của người lính già, ông Hồ Văn Vinh – Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh huyện Hướng Hóa chia sẻ: “Lịch sử ghi nhận qua hai cuộc trường chinh cứu nước, đồng bào Vân Kiều, Pa Cô dọc dãy Trường Sơn đã đồng lòng, chung sức với quân dân cả nước để đánh đuổi kẻ thù. Trở về sau ngày hòa bình với muôn vàn khó khăn, họ lại cùng nhau san lấp hố bom, xây dựng kinh tế và giữ vững an ninh đường biên cột mốc. Cựu chiến binh Hồ A Máng là một ví dụ điển hình”.
Vĩnh Yên – Thiên Phúc
LTS: Cách đây 45 năm, chiến trường Khe Sanh (Quảng Trị) ngợp trời khói bom, tiếng súng. Mỹ ngụy xem đây là cứ điểm quan trọng nhất trên chiến trường Việt Nam để tiến đánh miền Bắc. Để giữ được cứ điểm này, các tướng lĩnh hàng đầu nước Mỹ từng bắt tay ký cam kết giữ vững Khe Sanh bằng mọi giá. Nhưng dẫu có ném cả danh dự nước Mỹ vào Khe Sanh với các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất, Mỹ vẫn không thể chiến thắng được nhiệt huyết tuổi đôi mươi, tinh thần chiến đấu anh hùng bất khuất quyết giải phóng quê hương của những người lính Cụ Hồ chân trần, chí thép…
 
Kỳ 2: Người đi dọc hành trình giải phóng Khe Sanh

Bình luận (0)