|
Sau năm 2015 sẽ có bộ SGK ngữ văn THPT mới. Ảnh: Anh Khôi
|
Theo quan điểm của chúng tôi, để đánh giá một cách khái quát và có lợi nhất cho việc xây dựng CT mới, việc đánh giá cần dựa trên những tiêu chí sau đây: Logic nội bộ của CT, tức là mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận cấu thành CT; mức độ tuân thủ của CT đối với các quy định của Luật Giáo dục và của CT giáo dục phổ thông nói chung về mục tiêu, nội dung, phương pháp; mức độ phù hợp của CT với đối tượng của môn học, đối tượng phục vụ và điều kiện thực hiện CT. Xét theo các tiêu chí đã nêu, có thể nêu một số nhận định khái quát về CT giáo dục phổ thông môn ngữ văn như: Cấu trúc CT có tính khoa học, tính sư phạm. Tuy nhiên, tính tích hợp giữa các hợp phần càng lên các lớp trên càng mờ nhạt. Về cơ bản, môn ngữ văn thực hiện theo đúng quy định của Luật Giáo dục và CT giáo dục phổ thông. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng nhu cầu này chưa cao nhất là yêu cầu “phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo” trong mục tiêu giáo dục. Nội dung CT phù hợp với những tri thức có tính hệ thống và cập nhật của các ngành khoa học ngôn ngữ học và văn học. Tuy nhiên, càng lên lớp trên, tính hàn lâm càng nặng, khả năng tác động đến sự phát triển và hoàn thiện năng lực của HS càng yếu. Một số nội dung dạy học không phù hợp với khả năng tiếp nhận của HS (ví dụ, dạy văn học trung đại từ lớp 7, trong khi CT cải cách giáo dục năm 1979 dạy ở lớp 9). Việc CT quy định chi tiết cả tên tác phẩm, thậm chí từng trích đoạn tác phẩm tuy đáp ứng được một số yêu cầu nhất định về quản lý (ví dụ, đảm bảo tính thống nhất trong việc biên soạn SGK, thực hiện CT, ra đề thi…) nhưng tạo ra một CT khép kín, xa rời thời sự văn học, không phù hợp với tâm lý và xu hướng đọc sách của HS hiện nay, do đó không khơi gợi được hứng thú học tập của các em.
Theo quy định của CT, “các trường và các địa phương có thể vận dụng CT cho phù hợp với đặc điểm của trường, của vùng miền, phù hợp với từng đối tượng HS theo sự hướng dẫn của Bộ GD-ĐT. Nhưng trên thực tế, tất cả các địa bàn, các đối tượng vẫn học chung một CT theo phân phối CT của Bộ GD-ĐT. Từ bậc THCS trở lên, CT dành 15% nội dung cho các vấn đề lịch sử, địa lý, văn hóa địa phương nhưng không phải tỉnh/thành nào cũng tổ chức biên soạn được phần CT này. Trong khi đó, SGK ngữ văn bao gồm 24 quyển, dạy ở 3 bậc học với những yêu cầu và nội dung rất khác nhau, chưa kể kèm theo còn có 24 quyển sách giáo viên, 24 quyển sách bài tập. Mỗi bậc học, mỗi quyển SGK, thậm chí mỗi bài học có những ưu điểm và hạn chế riêng.
Do vậy, để có thể rút ra những nhận định khái quát và có lợi nhất cho việc biên soạn SGK mới, theo chúng tôi, việc đánh giá cần dựa trên những tiêu chí sau đây: Tính hệ thống của SGK; mức độ tuân thủ của SGK đối với các quy định của CT giáo dục phổ thông nói chung và CT ngữ văn nói riêng về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục; mức độ phù hợp của SGK với đối tượng của môn học, đối tượng phục vụ và điều kiện dạy – học. Xét ở các tiêu chí đã nêu, có thể tổng hợp các ý kiến đánh giá SGK ngữ văn thành một số nhận định khái quát như sau: Bộ SGK ngữ văn nhìn chung có tính hệ thống. Tuy nhiên, tính tích hợp giữa các hợp phần càng lên các lớp trên càng mờ nhạt. Một số văn bản, một số nội dung dạy ở lớp dưới được lặp lại ở lớp trên nhưng chưa thể hiện rõ nguyên tắc đồng tâm (vừa lặp lại vừa nâng cao theo kiểu vòng tròn xoáy trôn ốc). Thứ tự sắp xếp một số bài chưa hợp lý. Về mức độ phù hợp của SGK với đối tượng của môn học, đối tượng phục vụ và điều kiện dạy, học, bên cạnh những ưu điểm, SGK ngữ văn có một số hạn chế rất cần được khắc phục trong lần biên soạn tới, cụ thể là: Nhiều bài học trong SGK, nhất là ở các lớp trên, nặng về lý thuyết, ít có tác dụng rèn luyện kỹ năng cho HS. Một số nội dung còn cao đối với khả năng tiếp thu của HS, nhất là HS nông thôn, miền núi và những HS có khó khăn trong học tập. Thời lượng dành cho một số nội dung học tập chưa hợp lý…
Xây dựng CT theo định hướng năng lực người học
|
Hầu hết tác phẩm dạy trong SGK bậc THCS, THPT tuy có vị trí trong lịch sử văn học nhưng đã ra đời từ gần nửa thế kỷ cho đến vài trăm năm, thậm chí cả ngàn năm trước, không phù hợp với tâm lý và xu hướng đọc sách của HS hiện nay, do đó không khơi gợi được hứng thú học tập của các em.
|
Mục tiêu giáo dục mới đòi hỏi những đổi mới về CT giáo dục. Bộ phận nghiên cứu CT giáo dục phổ thông của bộ đang đề xuất xây dựng CT mới theo định hướng năng lực (competency-based approach). Theo ý kiến này, xây dựng CT theo định hướng năng lực là định ra một khung năng lực cần hình thành và phát triển ở người học. Đây là kiểu CT xác định đầu ra. Học CT này, HS sẽ có kiến thức, kỹ năng vững vàng hơn. CT theo định hướng năng lực khác với CT theo định hướng nội dung (content-based approach). Xây dựng CT theo định hướng nội dung là định ra trong CT một hệ thống các đơn vị kiến thức, kỹ năng cần trang bị cho người học. Đây là kiểu CT xác định đầu vào. Cách tiếp cận này thiên về lý thuyết, kết quả là người học được trang bị kiến thức có tính hệ thống nhưng yếu về kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng sống. Chuyển đổi từ CT theo định hướng nội dung thành CT theo định hướng năng lực là xu hướng của nhiều nước hiện nay.
Để xây dựng CT theo định hướng năng lực trước hết phải làm rõ khái niệm năng lực. Mặc dù cách trình bày về khái niệm năng lực có khác nhau nhưng các tài liệu nghiên cứu đều quan niệm năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kỹ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của HS để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Khó khăn nhất trong xây dựng CT theo định hướng năng lực là xác định các năng lực cần hình thành và phát triển ở người học vì đó không phải là một hệ thống có sẵn như khái niệm khoa học. Một số tài liệu đã xác định danh sách năng lực chung. Nhưng các năng lực ngữ văn chỉ có thể sàng lọc từ CT ngữ văn cụ thể. Theo phương hướng này, để thực sự đạt được mục tiêu rèn luyện năng lực cho HS, CT ngữ văn tương lai cần là một CT mở. Tính mở trước hết thể hiện ở nội dung. Ví dụ, học về nhân vật văn học, CT chỉ nêu yêu cầu nắm được khái niệm nhân vật văn học, cách xây dựng nhân vật của một thể loại, một trường phái, một phong cách nào đó và có một vài gợi ý tìm tác phẩm; còn việc lựa chọn tác phẩm cụ thể để dạy về nhân vật văn học một phần do tác giả SGK, một phần do thầy và trò quyết định. CT nên tạo cơ hội cho HS giới thiệu và thảo luận với các bạn cùng lớp những tác phẩm mình mới đọc. Tính mở của CT còn phải thể hiện ở sự phân phối hợp lý giữa thời gian học tập trên lớp với thời gian hoạt động cá nhân mà CT hiện hành vẫn xếp vào loại “hoạt động ngoại khóa” như đọc sách ở thư viện hay đi thăm bảo tàng…
Nghiêm Huê (lược ghi)
| LTS: Dự kiến, sau 2015, Việt Nam sẽ có sách giáo khoa (SGK) mới. Hiện nay, Bộ GD-ĐT đang huy động các chuyên gia thiết kế chương trình (CT), SGK. Giáo Dục TP.HCM xin lược ghi lại bài viết của GS. Nguyễn Minh Thuyết (nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội) đề cập đến môn ngữ văn trong tương lai của Việt Nam. |
|
Cần thay đổi quan niệm sử dụng SGK
Để phù hợp với một CT theo định hướng năng lực, chắc rằng bộ SGK ngữ văn mới sẽ phải có những đổi mới về cấu trúc. Cùng với việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, trong tương lai, chúng ta cần thay đổi quan niệm về sử dụng SGK, trao quyền chủ động nhiều hơn cho nhà trường và GV để lựa chọn nội dung dạy học, lựa chọn tác phẩm văn học thích hợp, đa dạng hóa các hình thức bồi dưỡng tri thức, rèn luyện kỹ năng và nhân cách cho học sinh. SGK cũng cần thể hiện quan điểm sắp xếp hợp lý thời gian học trên lớp với thời gian tự học, thực hành, dã ngoại, tăng tính linh hoạt của CT giáo dục mới.
|


Bình luận (0)