Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Mùa xuân nhớ những soạn giả nổi tiếng!

Tạp Chí Giáo Dục

Mi dp xuân v, ai cũng có trong lòng mt ni nh. Các ngh sĩ cũng thế. Xuân 2026 năm nay, cùng NSND Bch Tuyết chia s ni nh không quên y v nhng ngưi thy, đng thi cũng là nhng son gi ni tiếng ca sân khu ci lương min Nam!

Soạn giả Điêu Huyền 

“Mùa xuân đu tiên” trong ngh hát

Cứ  vào mùng ba Tết hàng năm, tôi lại đến viếng mộ soạn giả Điêu Huyền – cây cổ thụ của giới sáng tác sân khấu đồng thời cũng là người thầy, người ba nuôi của tôi trong nghề. Nếu không có ông, nghề nghiệp sân khấu của tôi sẽ không biết bắt đầu như thế nào? Ông là người đã mang đến cho tôi “mùa xuân đầu tiên” trong nghề hát. Mùa xuân năm 16 tuổi, tôi chính thức bước chân vào con đường nghệ thuật cải lương. Chính soạn giả Điêu Huyền đã đến gặp ba tôi, xin và đảm bảo cho tôi đi theo ông xuống gánh hát Kiên Giang tập vở tuồng diễn Tết Lá thắm chỉ hồng do ông viết kịch bản. Đây là vở diễn đầu tiên trong cuộc đời làm nghệ thuật của tôi. Tôi đóng vai cô lái đò. Vở diễn ca ngợi lòng yêu nước chống ngoại xâm của mọi tầng lớp. Tất cả đối với tôi lạ lùng, quyến rũ lẫn sợ hãi của một cô nữ sinh trung học, lần đầu bước vào cái xã hội thu nhỏ của những người làm sân khấu dân tộc với đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố… Tôi cảm thấy mình bước đi như chân không chạm đất một cách chắc chắn, chỉ biết hành động theo sự chỉ dạy, sắp đặt của ba nuôi từ tuồng, tập hát, tập múa, tập đánh kiếm, tập hóa trang… Đêm diễn đầu xuân khai trương, khán giả đến xem rất đông. Sau buổi diễn, vào hậu trường, tôi hỏi ba nuôi xem vai diễn thế nào, ông không trả lời mà đưa cho tôi một bao lì xì đỏ bảo đó là “lộc của Tổ” rồi kêu tôi muốn biết cứ đi hỏi các anh em hậu đài, soát vé sẽ rõ… Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn thói quen do ông truyền lại là biết quan tâm chăm sóc các bạn công nhân, hậu đài, đội quân thầm lặng không thể thiếu của sân khấu. Ba nuôi tôi bảo: “Con muốn biết mình diễn hay hay dở thì hãy hỏi những người đó. Hay là họ khen, dở họ chê chứ không hề nói gạt con”. Lời của ba nuôi cho tới ngày này tôi vẫn còn thấy đúng. Những suất diễn tiếp theo tôi càng nhập vai hơn. Khi đi chợ với ba nuôi, khán giả gặp tôi chỉ tay bảo “cô lái đò kìa”. Ba nuôi nói mới đi hát mà được khán giả kêu tên nhân vật là “điềm lành”, nhất định tôi sẽ thành công. Sau vở Lá thắm chỉ hồng, tôi tiếp tục diễn vở Kiếp chồng chung cũng của ba nuôi viết và tên tuổi của tôi được đông đảo người trong giới biết đến, đặc biệt là được khán giả rất yêu mến… Soạn giả Điêu Huyền đã ra đi nhưng trong giới sân khấu cải lương, mọi người vẫn nhớ đến ông với nhiều kịch bản khác như: Tiếng hò sông Hậu, Khách sạn Hào Hoa, Tìm lại cuộc đời, Ánh lửa rừng khuya… Bản thân tôi suốt cuộc đời vẫn không bao giờ quên được “mùa xuân đầu tiên” được bước ra sân khấu cũng như không bao giờ quên được công ơn của ba nuôi – người đã trao cho tôi “chiếc chìa khóa bằng vàng” để mở ra cho mình một cánh cửa lớn bước vào thánh đường thiêng liêng của nghệ thuật. Ba nuôi đã tiếp nối, thừa hưởng những tinh hoa của các bậc tiền bối cải lương và ông đã trao lại cho thế hệ sau ông không chỉ kinh nghiệm, tài năng, tác phẩm mà còn là tấm gương của một nhân cách lớn, yêu nghề, trân trọng nghề, trân trọng từng con người.

Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Nh mãi nhng mùa xuân vi hai anh

Nhiều mùa xuân rồi đã đi qua nhưng không một ai không biết, không nhớ đến tên tuổi của hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng cho dù yêu hay không, thích hay không thích cải lương. Từ Khi hoa anh đào nở, Cầu sương thiếp phụ chàng cho đến Tấm lòng của biển, Nửa đời hương phấn, Tuyệt tình ca, Mùa xuân trên non cao, Tần nương thất… ở nơi đâu, nơi nào, cho ai, viết về đề tài gì… người dựng, người diễn, người xem cũng nhận ra nơi hai anh cái nhân cách lớn của con người sống vì con người, sống có trách nhiệm của người với cuộc đời. Mùa xuân năm 1963, tôi diễn vở Khi hoa anh đào nở trên Sân khấu Dạ Lý Hương. Khi ca đến câu “Nếu mùa xuân trời đã vay huyết mạch của sông dài biển cả thì từ hạ sang thu trời cũng đã trải mưa dầm…”, nhìn vào trong cánh gà, tôi thấy hai anh nhăn mặt khó chịu. Diễn xong tôi mới biết mình đã hát trật một chữ “trả mưa dầm”. Hai anh luôn khắt khe với người diễn, rất bất bình khi diễn viên sai lời thoại, dù chỉ một dấu ngừng dấu nghỉ, hoặc là một lời thiếu lời thừa. Hoàn toàn không quá đáng, tôi cho đó là lương tâm nghề nghiệp, là ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ trước công chúng khán giả.

NSND Bạch Tuyết thời đóng vở “Tuyệt tình ca” năm 1965 và hiện tại

Mùa xuân năm 1965, trên Sân khấu Kim Chung, tôi diễn vở Tuyệt tình ca, hai anh bảo: “Tôi viết vai Lê Thị Trường An là cho cô, chứ không phải là cho một diễn viên nào khác”. Với vai diễn này, khi diễn, tôi nghe được tiếng thổn thức xé lòng, cảm nhận nỗi đau của con người, của dân tộc khi đất nước bị ngoại xâm. Người cha đi bắt con mình, xử tội con mình… Vở diễn đã làm lay động lòng người. Sáng mùng ba Tết, trên đường đến chúc Tết nhà chị Thanh Nga, nhiều khán giả đã níu gọi theo tôi là Trường An, đó là một vinh dự cao sang nhất, hơn bất cứ giải thưởng nào… Khi giao vai Trường An cho tôi, hai anh có nói thêm: “Với sức sống bên trong của nhân vật này, nếu cô bộc lộ được hết mình, tôi nghĩ cô sẽ trở thành cải lương chi bảo (báu vật của cải lương). Tôi không dám tin những điều anh nói, nhưng quả tình sau đó báo chí đã khẳng định như vậy. Tôi nhắc lại điều này không phải vì muốn nói về mình, mà chỉ muốn dẫn ra một ví dụ của riêng tôi về cái mẫn cảm nhanh nhạy của hai anh. Hai anh có thói quen là mùa xuân nào cũng lì xì lấy hên cho những nghệ sĩ diễn thành công những vở tuồng của hai anh, dù không nhiều nhưng đó cũng là một cái lộc rất lớn… Mỗi lần Tết đến, tôi thường đến nghĩa trang nghệ sĩ thăm mộ của hai anh. Đứng trước mộ, tôi đã thầm nói với hai anh: “Hãy yên nghỉ đi Hà Triều – Hoa Phượng ơi. Dù qua đi bao nhiêu năm nữa, khán giả vẫn sẽ nói về hai anh với những lời lẽ trân trọng nhất, người ta vẫn đánh giá được hết ngòi bút tài hoa tuyệt vời trong những tác phẩm mà hai anh đã để lại cho nền nghệ thuật cải lương Việt Nam”.

Anh Khôi (ghi)

Bình luận (0)