Ngựa là loài vật cực kỳ hữu ích, phục vụ con người trong nhiều lĩnh vực như phương tiện đi lại, thồ hàng, sức kéo, thể thao, giải trí, quân sự và cả y học; chúng còn có vai trò quan trọng về văn hóa, tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Việt từ thuở xa xưa. Cho nên, trong từ vựng tiếng Việt có nhiều thành ngữ gắn liền với hình ảnh con ngựa.

Nhưng có điều “oan ức” là đa phần các thành ngữ có hình ảnh ngựa hiện nay đều gợi cho người nghe những liên tưởng tiêu cực, khác xa, thậm chí trái ngược với những ý nghĩa tích cực ban đầu.
Về mặt ý nghĩa, không giống như hầu hết các loại đơn vị khác của từ vựng, thành ngữ cung cấp những cách diễn đạt độc đáo, có nhịp điệu và hình ảnh, giúp phát ngôn trở nên thú vị hơn, lời nói trau chuốt, hấp dẫn hơn. Thay vì phải giải thích dài dòng, tương tự tục ngữ, thành ngữ cho phép diễn tả một ý niệm phức tạp bằng những cụm từ ngắn gọn, súc tích. Tuy nhiên, một số thành ngữ có liên quan đến hình ảnh con ngựa hiện nay đã được sử dụng với nghĩa mới, không còn giữ nguyên nghĩa gốc ban đầu, thậm chí được hiểu một cách hoàn toàn khác biệt nghĩa gốc, như thành ngữ “ngựa quen đường cũ”. Dân gian thường dùng thành ngữ “ngựa quen đường cũ” để chê bai người có thói hư tật xấu khó bỏ. Nguyên ý của thành ngữ này là nhằm khen ngợi, thế nhưng trải qua lịch sử, ý tốt này đã chuyển biến thành khái niệm có hàm ý phê phán.

Hiện nay, đa phần các tư liệu nghiên cứu của các nhà khoa học đều ghi nhận rằng, “ngựa quen đường cũ” xuất xứ từ thành ngữ “lão mã thức đồ” thời nhà Hán ở Trung Quốc, có nghĩa là ngựa già quen đường cũ, bắt nguồn từ điển tích xưa về danh tướng Quản Trọng (722-645 TCN) thời Xuân Thu, vốn là một người nuôi ngựa có biệt tài nói chuyện được với chúng. Ông có một con ngựa quý, giỏi nhớ đường đi. Quản Trọng phò tá Tề Hoàn Công đi đánh nước Cô Trúc, lúc xuất binh sa trường vào mùa hè, nhưng sau nhiều tháng viễn chinh, đến khi thắng địch thì thời tiết đã chuyển sang mùa đông, lúc hồi hương quay về thì tuyết rơi phủ trắng xóa mọi nẻo đường khiến Quản Trọng không còn biết lối về nữa. Chợt nhớ đến con ngựa của mình giỏi tìm đường đi, ông bèn nói với nó: “Ngựa ơi, ngươi hãy đưa chúng ta về theo đường cũ” rồi quay sang bẩm với Tề Hoàn Công: “Trí nhớ của loài ngựa rất tốt, xin để con ngựa già đi trước dẫn đường”. Tề Hoàn Công bèn nghe theo lời Quản Trọng, hô ba quân đi theo con ngựa già. Ngựa của Quản Trọng hí lên mấy tiếng rồi phi lên trước dẫn đường, quân của Quản Trọng nối bước theo sau, vượt qua nhiều triền núi, khe sâu phủ dày tuyết, cuối cùng đã nhanh chóng tìm đúng lối cũ, giúp ba quân trở về an toàn. Như vậy, thoạt tiên, nghĩa đen của thành ngữ “ngựa quen đường cũ” là ghi nhận trí nhớ tốt của loài ngựa về việc nhớ đường đi, ngoài ra nghĩa hàm ẩn của thành ngữ nhằm ca ngợi, khen người nào đó có nhiều kinh nghiệm và có thể đóng vai trò dẫn dắt, định hướng cho cộng đồng, ca ngợi kinh nghiệm, trí nhớ của người, hay sự trung thành, biết ơn của con vật, cũng là biểu hiện của sự trung thành, tình nghĩa, của sự báo đáp công ơn.
Thế nhưng, trải qua thời gian lưu truyền, cùng với đời sống xã hội ngày càng phát triển, ý nghĩa của thành ngữ đã biến thiên từ hàm ý tốt khen ngợi, chuyển thành ý xấu phê phán. Hiện nay, người Việt chỉ duy nhất dùng thành ngữ “ngựa quen đường cũ” để chỉ một hiện tượng tiêu cực với ý chê trách, miệt thị, ví với một thói hư tật xấu cũ không bỏ được, cho dù đã được khuyên răn, dạy bảo nhưng vẫn cứ lặp lại, không chịu hối hận, tu tỉnh, cải sửa. Đây là một trong nhiều điển tích đã biến chuyển ngữ nghĩa trái ngược, thay đổi ý nghĩa giáo huấn truyền tải như bản nghĩa của nó, chuyển thành nghĩa tiêu cực, tương tự như các cụm từ “thói nào tật nấy”, “chứng nào tật nấy”. Nguyên nhân của sự biến thiên nghĩa đó, có lẽ một phần cũng do hiện nay ngựa không còn được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực đời sống xã hội như giao thông, vận tải hoặc chiến trận như xưa, dẫn đến mối quan hệ gắn bó giữa vật và người ngày càng phôi pha, không còn chặt chẽ như thuở trước, trí nhớ của ngựa cũng không còn mấy hữu dụng đối với con người nữa.

Tiếp đến là thành ngữ “đầu trâu mặt ngựa”. Xuất xứ của cụm từ “đầu trâu mặt ngựa” bắt nguồn từ danh xưng “Ngưu đầu, Mã diện” trong văn hóa Trung Hoa, dùng để chỉ hai vị thần thuộc hạ của Diêm Vương, với hình dạng thân người nhưng đầu trâu hoặc đầu ngựa, có phận sự áp giải các linh hồn người chết (đắc tội thuở sinh thời) xuống địa phủ và thi hành sự trừng phạt. Chúng vốn dĩ là một con trâu và một con ngựa bình thường trên nhân gian, có cuộc sống vô cùng vất vả, khổ cực (người ta nói “kiếp trâu ngựa” là vì thế), sau nhiều năm tận tụy phục vụ chủ nhân, trâu và ngựa cùng chết đi và xuống âm phủ. Diêm Vương cảm phục sự tận tụy trung thành của trâu ngựa, đồng thời cũng thương cho số phận cơ cực của chúng, nên sung làm bộ hạ, trở thành hai vị hộ thần bảo vệ âm ty, kiêm luôn việc áp giải, trừng phạt tội đồ.
Khi du nhập vào văn hóa Việt Nam, hình ảnh “đầu trâu mặt ngựa” được Việt hóa, dân gian không còn hiểu đó là hai vị thần địa phủ mẫn cán mà xem là hai con quỷ sứ, dùng để chỉ những kẻ có tính cách côn đồ ngang ngược, hung ác, không còn tính người. Như vậy, từ nghĩa gốc tích cực chỉ hai vị hộ thần địa phủ tận tụy ban đầu, nay trong thành ngữ tiếng Việt, “đầu trâu mặt ngựa” đã chuyển sang nghĩa tiêu cực thành đồ quỷ dữ mất nhân tính! Cụm từ này cũng từng được đại thi hào Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều để miêu tả bọn sai nha hung ác như quỷ sứ ở Âm phủ: “Người nách thước, kẻ tay dao/ Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi” (câu 577-578).
Ngoài ra còn những thành ngữ ghi lại tập tính tự nhiên của loài ngựa trong cuộc sống hoang dã, hình thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ tự ngàn xưa. Như thành ngữ Hán Việt “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” có nghĩa đen là trâu tìm đến trâu, ngựa tìm đến ngựa. Thành ngữ này bắt nguồn từ kết quả việc quan sát ngựa, trâu là loài vật có tập tính bản năng sống quần tụ thành bầy đàn nhằm bảo vệ lẫn nhau, lấy sức mạnh của số đông chống lại các loài mãnh thú ăn thịt để tồn tại, thường di cư theo mùa tìm nguồn thức ăn, nước uống dồi dào để sinh tồn. Thế nhưng, điều thú vị là hiện nay ngữ nghĩa chung của thành ngữ “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” này lại chuyển biến chệch theo hướng khác, hàm chỉ những kẻ xấu sẽ tìm gặp kẻ xấu để kéo bè kết cánh cùng hội cùng thuyền với nhau để giao du hay mưu đồ làm những việc mờ ám, xấu xa, bất chính.
Hoặc như thành ngữ “ngựa non háu đá”. Vũ khí tự vệ hữu hiệu nhất, ngoài khả năng chạy nhanh để thoát thân của ngựa là đá hậu để chống lại các loài thú dữ. Nên từ thuở còn non, ngựa có tập tính tích cực luyện tập cú đá hậu cho thuần thục. Việc rèn luyện phương cách tự vệ để bảo tồn giống loài là điều hết sức cần thiết đối với ngựa, để suốt đời về sau chúng tự bảo vệ mình trong cuộc sống hoang dã vốn luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị kẻ thù tấn công. Nhưng hiện nay thành ngữ này không còn được hiểu theo nghĩa tích cực trên, mà chỉ được vận dụng với nghĩa duy nhất là hàm ý chê người trẻ tuổi kiêu ngạo, hung hăng, hiếu thắng, ưa khiêu khích, ham đối chọi mà không biết lượng sức mình.
Nhân Tết Bính Ngọ, ngẫm lại vài thành ngữ đã chuyển nghĩa để “minh oan” cho ngựa, ta càng cảm nhận thêm nhiều điều thú vị của ngôn từ tiếng Việt qua quá trình lịch sử biến thiên nghĩa của từ ngữ để phù hợp với tâm lý xã hội trong nhịp sống hiện đại.
Là một bộ phận sinh động không thể thiếu trong ngôn ngữ tiếng Việt, như các đơn vị khác trong từ vựng, trên quan điểm lịch đại (lịch sử phát triển) thành ngữ cũng có lịch sử biến đổi nghĩa, nên chúng ta cần hiểu quá trình chuyển đổi ý nghĩa của chúng để vận dụng một cách chính xác, tinh tế, thể hiện ý thức trân trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa, truyền thống lâu đời của dân tộc.
Đỗ Quyên

Bình luận (0)