|
Một thuở, nghề đúc đồng ở Phước Kiều đứng trên đỉnh vàng son nhờ nhiều sản phẩm được ưa chuộng
|
“Thuở trước, không như bây giờ, khi công nghệ máy móc còn chưa phát triển, nghề đúc đồng của bà con ở làng Phước Kiều (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) được xem là nghề hái ra tiền. Chỉ cần trong nhà có hai tay thợ lành nghề là cuộc sống sung túc quanh năm mà không phải lo thiếu trước hụt sau”, nghệ nhân Dương Trí Thuận cho biết.
400 năm, truyền thống một làng nghề
Quả thật cái xứ sở này có lắm cái nhất: Nghèo nhất; hẹp nhất; gánh chịu nhiều thiên tai nhất… nhưng lại giàu có nhất về di sản. Và cũng không có nơi đâu trên khắp đất nước này lại có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như ở xứ này. Nói như nghệ nhân Dương Trí Thuận (60 tuổi) – một người sinh ra trong gia đình có 4 đời làm nghề đúc cồng chiêng truyền thống ở làng Phước Kiều thì “Trong cái khó, ló cái tài hoa. Tạo hóa sinh ra xứ này để rồi lấy đi nhiều hơn cho. Nhưng quả thật, người dân xứ này vẫn phải tự hào và mang ơn cái tạo hóa ban lại ít ỏi ấy. Đó là tài hoa, lòng đam mê và sự kiên nhẫn. Chỉ cần từng ấy thôi đã đủ duy trì và phát triển một làng nghề sống cùng thời gian. Làng đúc đồng Phước Kiều cũng vậy!”.
Trong trí nhớ nối từ đời này sang đời khác của những người con sinh ra và lớn lên ở làng Phước Kiều, nghề đúc đồng ra đời từ thế kỉ XVII. Mảnh đất Thanh Chiêm xã Điện Phương (huyện Điện Bàn, Quảng Nam) là chốn dừng chân của viên quan họ Dương, quê gốc Thanh Hóa. Nghề đúc đồng được viên quan Dương Tiền Hiền chọn truyền lại cho con cháu làm kế mưu sinh. Mảnh đất cằn cỗi, cây cối phát triển èo uột giữa nắng gió khắc nghiệt khiến cuộc sống bà con nghèo khó bỗng dưng xôm tụ bởi nghề đúc đồng. “Ban đầu làng nghề chia làm hai phường, một phường tạc tượng (tạo ra một hình dạng mỹ thuật theo mẫu đã định bằng cách mài, chạm trên vật liệu rắn – PV) còn một phường chú tượng (nung chảy vật liệu rắn, thường là đồng rồi đổ vào khuôn đúc – PV). Đến đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn sáp nhập hai phường tạc tượng và chú tượng để hình thành “xã hiệu Phước Kiều”, còn gọi là làng đúc đồng Phước Kiều. Trải qua nhiều dâu bể thăng trầm, cũng có lúc nghề rơi vào ngõ cụt bởi sản phẩm làm ra không còn ai thèm ngó ngàng đến, nhưng người Thanh Chiêm vẫn không ai muốn bỏ nghề. Một phần do đất đai cằn cỗi lại hiếm hoi, muốn sống bằng nghề thuần nông cũng khó. Phần khác được xem là nguyên nhân chính để giữ nghề là do không ai muốn bỏ cái nghề truyền thống của cha ông vốn đã ăn sâu vào tiềm thức, máu thịt của mỗi người. Mớ âm thanh bùm, xèng của cưa, đục, dũa của nghệ nhân đẽo gọt, đúc tạc trên pho tượng như bài dân ca đi vào giấc ngủ con trẻ từ thuở ấu thơ. Bởi vậy, nghề đúc đồng mới tồn tại được đến ngày nay”, nghệ nhân Dương Trí Thuận kể lại.
Nghề “hot” thời thủ công
|
|
Vào thời buổi khoa học công nghệ chưa phát triển, sản phẩm đúc đồng thủ công của người Phước Kiều được ưa chuộng trên thị trường. Trong nhà chỉ cần một tay thợ lành nghề là có thể nuôi sống cả gia đình. Cùng với sự thông thương giữa miền xuôi và miền ngược, Phước Kiều thuộc dinh trấn Quảng Nam có lợi thế nằm trên trục hành lang kinh tế Đông Tây nên thuận lợi trong việc tìm đầu ra cho sản phẩm. Thời điểm ấy cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị) thông thương từ Cửa Việt đến Ai Lao (nước bạn Lào) và cửa An Khê từ Bình Định lên Tây Nguyên đã mở ra cho làng Phước Kiều một thị trường mới: Đó là khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên, và sản phẩm chủ yếu là các loại nhạc cụ dùng trong sinh hoạt văn hóa mang đậm bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số. Và cũng nhờ vào loại sản phẩm đặc thù này, các nghệ nhân nhiều thế hệ của làng đã tạo được thương hiệu để cùng sánh vai với các làng nghề thủ công trong cả nước, đó là làng đúc cồng chiêng Phước Kiều. Nghệ nhân Dương Nhi (87 tuổi) nhớ lại: “Ngày trước, sản phẩm làm ra chủ yếu là các vật dụng gia đình. Sau đó, nhận thấy nhu cầu của bà con càng lớn nên nhiều tay thợ mày mò tìm hiểu, nghiên cứu đúc các loại nhạc cụ dân tộc như cồng chiêng, thanh la, tạc tượng, phù điêu… Tháng nào, tuần nào bà con đồng bào thiểu số từ các tỉnh Thừa Thiên – Huế cho tới Bình Phước, Tây Nguyên cũng cơm đùm gạo bới lặn lội hàng ngàn cây số tìm về đặt hàng. Có nhiều người do đường sá xa xôi, phương tiện đi lại không có nên ở lại chờ đến khi có sản phẩm mang về”. Theo thống kê sơ bộ của ngành văn hóa, ngoài lượng cồng chiêng làng Phước Kiều cung cấp phục vụ cho những sinh hoạt lễ nghi của người Kinh, tính riêng khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên (vùng văn hóa cồng chiêng), trong vòng gần 200 năm qua ước có trên 35 ngàn bộ các loại nhạc cụ dân tộc (tương đương với 200 ngàn chiếc, chiếm khoảng 3/4 lượng cồng chiêng trong toàn khu vực).
Người Phước Kiều giữ cho riêng mình bí quyết làm nghề trong kỹ thuật pha kim và trình độ thẩm âm thiên về khả năng trời phú có một không hai. Sản phẩm thủ công khiến người mua hài lòng nhất có lẽ là chiếc chiêng và thanh la. Người am hiểu văn hóa cồng chiêng, đam mê nhạc khí chuộng tiếng chiêng và thanh la Phước Kiều ở khâu đánh lên nghe ngân xa, ấm ápkhông đâu sánh bằng. Người Phước Kiều có cái lý của riêng mình khi tự hào về nghề truyền thống của cha ông: “Dưới triều Nguyễn, những nghệ nhân của làng nghề được triều đình mời về kinh thành Huế tham gia đúc đỉnh, vạc, súng và cả ấn tín. Một số nghệ nhân đã được phong “Cửu phẩm đội trưởng” như cụ Cửu Thuyên (Dương Ngọc Thuyên), Xã Mãi (Trần Tạo), Xã Diêm (Trần Diêm), Cửu Thìn (Trần Văn Niên)…” nghệ nhân Dương Nhi tự hào nói.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
| Bí quyết giúp làng nghề xôm tụ một phần do thời bấy giờ ở các tỉnh từ Trung Trung bộ cho đến miền Nam hiếm nơi nào có làng nghề đúc đồng với nhiều tay thợ giỏi như Phước Kiều. |



Bình luận (0)