|
Ông Dương Quốc Thuần đang đốt lò khơi lại lửa hồng đúc đồng sau nửa thế kỷ vùi trong tro lạnh
|
Từng một thời ở trên đỉnh vàng son, đặc biệt là dưới thời nhà Nguyễn nhưng đến giai đoạn sau 1945, một phần vì chiến tranh loạn lạc, phần khác do nhu cầu bị bão hòa, nghề đúc đồng rơi vào tình thế “bỏ thương, vương nặng”. Những nghệ nhân yêu nghề gần nửa thế kỷ mải miết tìm lại thuở vàng son cho nghề nhưng càng tìm, càng vắng…
Nửa thế kỷ thoái trào
Hôm chúng tôi về làng Phước Kiều, ông Dương Quốc Thuần (60 tuổi) dẫn khách đi dọc một vòng quanh làng Thanh Chiêm giới thiệu về nghề đúc đồng. Phải đi qua rất nhiều ngõ nhỏ, chúng tôi mới nghe được đôi tiếng âm thanh bùm, xèng vọng ra sau lũy tre. Ông Thuần khoát tay, bây giờ nghề đúc đã hồi sinh rồi đấy. Vào thập niên 90 của thế kỷ trước, có thắp đuốc tìm cũng không ra. Khuôn đúc rêu phong, thợ đúc bỏ xứ.
Trên dọc dải đất miền Trung, đã có rất nhiều làng nghề từng hưng thịnh rồi mai một và gần như mất hẳn. Nhắc đến nghề, nhiều người lớp trẻ gần như không hề biết tới. Làng đúc đồng Phước Kiều cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khi khoa học công nghệ phát triển vượt bậc, nhu cầu về đồ gia dụng thủ công bị bão hòa. Thứ đồ một thời được xem là dành cho bậc vương giả, giàu sang trở thành gần như là sản phẩm chỉ dành cho người nghèo. Mà đã nghèo, mấy ai đầu tư vật dụng đắt như đồng? Đồ đồng vì thế mất vị thế trên thị trường. Tiếp đó, chiến tranh khốc liệt, con người chỉ lo chạy giặc, tránh bom. Ai còn đủ thời gian tìm về làng nghề đặt mua những thứ thủ công, mà muốn có phải mất ít nhất cả tuần mới làm ra được! Mặt khác, ở vùng cao nạn “chảy máu” cồng chiêng Tây Nguyên diễn ra trầm trọng. Nhiều đồng bào dân tộc thiểu số không còn mặn mà với điệu cồng chiêng. Nhạc cụ treo giàn bếp, bỏ xó hoặc đem bán đồng nát. “Vậy thì nghệ nhân sống bằng gì?” – tôi hỏi. Ông Thuần buông giọng buồn buồn: “Còn tùy”. Tùy lúc ngừng bom đạn và tùy vào túi tiền người mua. Cuộc sống của thợ làng đúc rơi vào khó khăn, giữa một bên là khuôn đúc và một bên là sản phẩm làm ra ế ẩm. Đó là chưa kể, hễ gặp một trận bom là bao nhiêu công sức tiêu tan. Dễ chừng như thế ngót nửa thế kỷ. Nhiều thanh niên trai tráng trong làng vì miếng cơm manh áo đành bỏ khuôn đúc, dứt áo lang bạt tận các miền kinh tế mới hoặc kiếm sống ở Tây Nguyên hay miền Nam. Ông Dương Quốc Thuần là một trong những số đó.
Ông Thuần sinh ra trong một gia đình có đến 5 đời làm nghề. Chưa hề biết tay cầm cái cuốc hay theo sau cái cày nhưng sau ngày hòa bình lập lại, cuộc sống thiếu thốn tứ bề. Sản phẩm làm ra vẫn chưa có ai có nhu cầu. Phần khác, cơ chế khuyến khích bà con tập trung sản xuất nông nghiệp để vực lại nền kinh tế sau những năm chiến tranh. Làng nghề bị quên lãng. Để có tiền nuôi sống gia đình, ông Thuần lang bạt tận miền Nam suốt 3 năm trời. “Hồi đó, túng quẫn nên bỏ xứ vào Nam rồi lên Tây Nguyên. Ai cần việc gì mình làm việc đó, miễn là có thể kiếm ra tiền trang trải cuộc sống. Một thời gian sau, kinh tế gia đình có phần khá hơn chút đỉnh, tôi quay về làng, để rồi lại mày mò lật lại khuôn đúc. Áo cơm đôi khi buộc con người ta phải từ bỏ đam mê. Nhưng suy cho cùng, với tôi cái đam mê nó đã ngấm vào máu thịt. Khi khó khăn đành gác lại chứ chưa hề nghĩ rằng mình sẽ bỏ nó. Dẫu biết đúc ra cái chiêng chưa phải là khó, khó ở chỗ đầu ra nhưng vẫn quyết làm. Xưa cha ông mình giữ nghề được cả mấy trăm năm, chừ mình bỏ không đành” – ông Thuần cười cho biết như thế!
Khơi lại lửa hồng
Những năm đầu thế kỷ 21, người Phước Kiều nặng nợ với nghề đúc cảm thấy ấm lòng khi nhu cầu về sản phẩm đúc “ấm” trở lại. Đặc biệt là sau công cuộc thống kê cồng chiêng văn hóa Tây Nguyên. Bảo tồn phải bắt đầu từ cái gốc. Nghĩa là từ nơi làm ra sản phẩm cồng chiêng. Những khuôn đúc, lò nung bấy lâu nằm trong hoang tàn tro lạnh bỗng được khơi lửa hồng. Lửa đỏ suốt ngày đêm. Âm thanh loảng xoảng của cưa, đục, bào, dũa lại bắt đầu rộ lên. Dẫu không được xôm tụ như hồi đầu những năm 30 của thế kỷ trước nhưng nó mang ý nghĩa lớn lao hơn: Làng đúc đồng hồi sinh!
Để cái ý nghĩa hồi sinh từ giấc mơ trở thành hiện thực, nhiều nghệ nhân cao tuổi lẫn thế hệ trẻ Phước Kiều không ngại khó, ngại khổ, lặn lội lên tận Tây Nguyên, vào xó bếp lôi các nhạc cụ bám đầy mạng nhện ra lau chùi rồi đánh đấm, đánh thức phần hồn của nhạc khí. Kỉ niệm những đêm trăng ấu thơ cùng tiếng cồng chiêng rộn ràng mùa lúa mới đánh thức đồng bào. Những năm đó, khắp các bản làng có dân tộc Ê Đê, Gia Rai, Cơ Ho… ở Tây Nguyên nơi nào cũng in dấu chân những người thợ – nghệ nhân đam mê tiếng cồng chiêng tìm đến để đánh thức tiếng cồng trong quá vãng. Nhờ đó, làng Phước Kiều lại tới tấp nhận được đơn đặt hàng, không chỉ ở Tây Nguyên mà cả nước bạn Lào, Campuchia cũng tìm đến.
Chia vui với chúng tôi, ông Huỳnh Hiền, Trưởng thôn Thanh Chiêm – mảnh đất được xem là cái rốn của làng nghề 400 năm qua siết chặt tay khách, giọng hồ hởi: “Gần nửa thế kỷ chìm nổi, dẫu chưa mất dấu hẳn nhưng có lúc người Phước Kiều gần như rơi vào tuyệt vọng bởi không thể tìm được lối đi để duy trì làng nghề. Ấy vậy mà nhờ cầu nối văn hóa, nhờ du lịch cả đấy. Cách đây mấy năm, làng nghề chúng tôi thực sự sống lại sau giấc ngủ quá dài khi không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nghề đúc đồng Phước Kiều đã có cơ hội hồi sinh!”.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
| Ông Dương Ngọc Thuần bày tỏ: “Dường như trong dòng máu mỗi người thợ làng nghề đều có chung cái gen nghề tổ truyền. Cơ cực chi cũng không muốn bỏ. Nghề này không giàu có, chỉ mong sống được với nó. Thế mà vẫn thấy vui lắm”. |


Bình luận (0)