|
Cô Sáu Thủy, cô Út Nguyệt, chị Nguyễn Thị Hạnh (con ông Bảy Đóa) và ông Trần Thiện Tuấn, Chủ tịch UBND phường An Hòa, quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ (từ trái sang)
|
Năm 1967, khi mới hình thành, đền thờ đức y tổ Hải Thượng Lãn Ông – Lê Hữu Trác là căn nhà lá. Tuy đơn sơ nhưng ngôi đền ngoài việc thờ cúng đức y tổ còn là nơi khám chữa bệnh miễn phí cho dân nghèo, được gọi là Phòng thuốc – y tế – từ thiện xã hội; đồng thời còn là nơi Chi bộ Đảng đầu tiên của phường An Hòa thành lập.
Nhân chứng lịch sử
Đến nay, hầu hết những vị tiền bối tham gia xây dựng đền thờ và bốc thuốc chữa bệnh tại đền thờ đã qua đời, chỉ còn lương y Phạm Văn Bàng, năm nay đã 85 tuổi. Cụ Bàng là Tổng thư ký kiêm thủ quỹ Ban trị sự đền thờ và Tỉnh hội Đông y Phong Dinh. Cụ nhớ lại: “Phòng thuốc có khu khám bệnh, khu phát thuốc, khu châm cứu, làm việc suốt tuần. Các đông y sĩ làm việc trên tinh thần tự nguyện, thay nhau trực. Việc điều trị phối hợp thuốc nam và thuốc bắc. Ngoài khám bệnh ở đền, các đông y sĩ còn tổ chức xuống các tỉnh xa khám bệnh và phát thuốc cho dân nghèo”. Cụ Bàng cho biết thêm: “Thuốc bắc thì do Hội Đông y tặng, trong đó nhiều nhất là của lương y Trần Kế Khánh vì ông có nhà thuốc đông y lớn tại Cần Thơ. Mỗi khi đền thờ cần kinh phí hoạt động thì lương y Kế Khánh và ông Bảy Đóa đứng ra lo liệu. Kho thuốc của đền luôn đầy đủ vì ngoài Hội Đông y còn có sự tham gia của người dân. Hồi ấy anh chị em làm việc không lương nhưng tận tụy hòa thuận, hợp tác với nhau. Bà con thấy mình làm việc thiện thì tự động kiếm thuốc nam chở tới. Chúng tôi trả tiền xe cho bà con. Sau đó bộ phận dược phơi khô, sao chế”. Phụ trách Tổ sưu tầm và sơ chế thuốc nam là cô Trương Ngọc Thủy (còn gọi là Sáu Thủy) Tổ trưởng, cô Nguyễn Thị Liệp (Ba Liệp) giáo viên Trường Tiểu học Cộng đồng Minh Tâm và cô Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (Út Nguyệt), bán rau cải. Cả ba sau này là những đảng viên đầu tiên của Chi bộ An Hòa. Các vị đông y sĩ mở nhiều lớp đào tạo về châm cứu, bấm huyệt và kiến thức về thuốc nam để sơ cấp cứu cho nhân dân trong xóm ấp, thu hút đông đảo người học. Chị Nguyễn Thị Hạnh, con ông Bảy Đóa, và cô Út Nguyệt học nghề từ đây và trở thành những người châm cứu, bấm huyệt giỏi. Riêng chị Hạnh đã nhiều lần “trổ tài” điều trị cho bộ đội và nhân dân mỗi khi đi công tác trong vùng giải phóng.
Điều trị hiệu quả nên bệnh nhân đến ngày càng đông. Một trong những người điều trị bằng phương pháp châm cứu, bấm huyệt rất “mát tay” là cô Út Nguyệt. Một buổi sáng, mới 5 giờ, đang lui cui dọn dẹp, cô Út Nguyệt giật mình khi một bà mẹ hớt hải ẵm đứa con gái bước vào, mếu máo cho biết nhà ở huyện Cờ Đỏ, con gái mới ba tuổi không hiểu trúng gì mà liệt hai chân. Cô Nguyệt liền bắt mạch rồi cạo gió, châm cứu, dùng xạ hương hơ cho bé ấm rồi cho uống thuốc. Qua một tuần điều trị, bé đi lại được. Bà mẹ nghẹn ngào cảm ơn ân nhân rồi từ đó, mỗi khi có dịp lên Cần Thơ đều tranh thủ mang theo vài cây thuốc nam cho phòng thuốc. Nhớ lại chuyện này cô Út Nguyệt bảo: “Khi châm cứu mình có sự đồng cảm, chia sẻ với người bệnh thì việc điều trị rất hiệu quả”.
Căn cứ hoạt động cách mạng
Năm 1969, đền được trùng tu với bê tông cốt thép. Hoạt động của phòng thuốc còn góp phần giúp nhiều cán bộ hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1971, từ trong chiến khu ở Vĩnh Viễn, Long Mỹ, Hậu Giang, cô Sáu Thủy được tổ chức điều lên TP.Cần Thơ xây dựng cơ sở. Lúc đầu cô ở với người bà con ở đường Trần Văn Cừ, chung quanh toàn gia đình lính của chính quyền Sài Gòn. Ba tháng trời cô bó tay, lo âu không hoàn thành được công tác. Sau đó cô chiên bánh tiêu đội đi bán tìm cách len lỏi hoạt động. Rồi gặp cô Út Nguyệt, sau đó là cô Ba Liệp, và được ông Bảy Đóa cho ở trong đền thờ phụ giúp phòng thuốc. Với nhiệm vụ là Tổ trưởng Tổ sưu tầm và sao chế thuốc nam, hội viên Tổng hội Đông y Việt Nam, cô Sáu có điều kiện đi khắp nơi một cách hợp pháp, trên danh nghĩa đi tìm thuốc nam, rồi từng bước thực hiện công tác dân vận, móc nối xây dựng các đoàn thể và một số cơ sở cách mạng. Cô Sáu đã 5 lần đưa cô Út Nguyệt và cô Ba Liệp vào vùng giải phóng ở Hỏa Lựu, Vị Thanh, để học nghị quyết và phát triển đảng viên. Sau đó tổ chức kết nạp Đảng cho hai người. Ngày 24-4-1975, Thành ủy quyết định công bố thành lập Chi bộ Đảng An Hòa, cô Sáu làm Bí thư.
Khi tổ chức thông báo may cờ để chuẩn bị cho ngày giải phóng miền Nam, cô Sáu và cô Út, cô Ba Liệp ra chợ mua vải xanh, đỏ, vàng. Mua nhiều quá nên bị lộ, thế là cả ba chạy thục mạng về đền. Cô Sáu kể: “Sau này cô vận động mấy chị vợ lính, mấy người cô nhi quả phụ của lính mua giùm. Tôi nói với họ là mua vải xanh để may đồng phục cho cháu, học Trường Trưng Vương. Các vải khác may đồ mang về vùng quê bán kiếm lời. Nhờ vậy mà có đủ vải. Đến ngày giải phóng, cờ lớn thì treo ở Ủy ban phường, cờ nhỏ phát cho người dân”. Cô Út Nguyệt thêm vào: “Chúng tôi thắp đèn dầu may cờ trong hầm bí mật ở nhà anh Bảy Đóa. Nhà anh Bảy đối diện nhà tay đại úy trưởng phường An Hòa. Sát vách là nhà tay trưởng ấp. Dù sợ nhưng trong lòng rất phấn khởi khi cách mạng thành công”.
Sau 30-4-1975, Thành ủy quyết định phân cô Sáu Thủy là Bí thư kiêm Chủ tịch phường An Hòa. Chi bộ Đảng An Hòa ngày càng phát triển, cô Sáu còn là Chủ tịch Hội Đông y phường. Trong thời gian đầu rất khó khăn sau giải phóng, ngôi đền thờ đức y tổ trở thành Trạm y tế của phường An Hòa.
Bài, ảnh: Đan Phượng
| Trong ba đảng viên của Chi bộ đầu tiên ấy, cô Ba Liệp đã qua đời. Cô Út Nguyệt dù mang trong người nhiều bệnh, cô Sáu Thủy thì 85 tuổi nhưng đôi mắt các cô luôn ánh lên niềm vui khi kể lại chuỗi ngày công tác gian lao nhưng tươi đẹp ấy. |


Bình luận (0)