Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Người tình báo của hai cuộc kháng chiến: Kỳ 1: Tuổi thơ không trọn vẹn

Tạp Chí Giáo Dục

Từ trường làng ra trường tỉnh

 

Nguyễn Văn Tàu là người con của vùng đất anh hùng Long Phước, Bà Rịa. Chưa đầy 2 tuổi, ba mẹ Tàu đã chia tay nhau. Thuở bé, Tàu sớm bộc lộ tố chất thông minh, gan dạ. Tàu đi học ở trường làng, ngôi trường chỉ có ba lớp, mỗi lớp không quá 30 trò. Tàu được các thầy cô giáo thương yêu hết mực vì tính siêng năng, hạnh kiểm tốt, học lực giỏi. Học nửa năm lớp nhất thì ba đánh xe ngựa đến đón (lúc bấy giờ ba đã có vợ khác ở Long Điền) về học chữ Nho. Ba Tàu nói: “Con học chữ Quốc ngữ thì mai mốt cũng làm mọi cho Tây. Thôi về học chữ Nho rồi ba truyền nghề bốc thuốc, mở tiệm làm ăn”. Thời gian này, tiệm thuốc bắc của ba Tàu có tên là Dưỡng Sanh Đường nổi tiếng được người dân khắp nơi biết đến. Nghe lời ba, Tàu về Long Điền học chữ Nho. Chiều cuối tuần, Tàu lại đi bộ 4 cây số về thăm mẹ, gà gáy đầu ngày thứ hai lại cuốc bộ trở lại lớp học.
Tàu bỏ trường làng nên ngày nào thầy giáo của Tàu cũng đến nhà thuyết phục mẹ gọi Tàu về học lại vì “Cái thằng học giỏi nhất làng mà bỏ đi học chữ Nho thì uổng quá. Hơn nữa, còn nhỏ mà Tàu sớm bộc lộ tố chất gan dạ, thông minh rất cần cho lực lượng Thanh niên Tiền phong về sau”. Nghe mẹ cũng như thầy giáo, Tàu trở lại trường thì các bạn đã học gần hết năm học, chuẩn bị ra tỉnh thi lấy bằng tiểu học. Vừa đi học vừa ôn lại kiến thức đã bỏ thời gian nghỉ, thế mà kỳ thi lấy bằng tiểu học, Tàu đậu thứ hạng nhì toàn tỉnh và được Pháp cấp học bổng suốt 3 năm ở trường tỉnh. Ở 3 lớp nhì nhỏ, nhì lớn và lớp nhất trường tỉnh, Tàu là học sinh giỏi, hạnh kiểm tốt và dễ dàng thi đậu sơ học yếu lược. Theo quy định lúc bấy giờ, học sinh đậu sơ học thì có thể thi vào Trường Trung học Pétrus Ký (nay là THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM). Đó là mong ước của Tàu. Nhà nghèo, việc đi học ở trường tỉnh đã khó nay lên Sài Gòn càng khó hơn. Mẹ vét hết tiền trong nhà chỉ được 2 đồng, đủ 2 chuyến xe đò đi, về. Một đêm khó ngủ, Tàu nghe mẹ thưa với cậu Hai: “Em định cho thằng Tàu nghỉ học. Anh xem cho nó theo anh chăn bò, làm ruộng chứ em cũng hết cách”. Tàu buồn. Cậu Hai hiểu hoàn cảnh nhưng không đồng ý vì Tàu học giỏi, cả làng kỳ vọng vào một mình nó. “Thôi thì cố gắng cho nó đi Sài Gòn thi một chuyến, nếu có rớt thì về chăn bò, lúc đó mình và nó cũng cảm thấy thỏa mãn”, cậu Hai nói.
Đang trong bế tắc, cận ngày phải lên Sài Gòn thi thì thầy giáo trong làng duy nhất có bằng Thành Chung tên Mã Văn Thái mang đến cho má Tàu 5 đồng, nói: “Góp tiền cho trò Tàu đi thi”. Thế là Tàu có trong tay 7 đồng. May mắn lại đến, trong làng có một người đàn anh của Tàu cũng lên Sài Gòn thi. Người anh có bà con ở đường Cây Mai (nay là Nguyễn Trãi, TP.HCM), Tàu được họ cho ở nhờ để đi thi. Kỳ thi vào Trường Pétrus Ký có đến 600 học sinh. Cả Tàu và người anh cùng làng đều đậu phần thi viết bằng tiếng Pháp và tiếp tục thi sát hạch bằng miệng với các môn: Sử địa, toán, giáo dục, dịch bài từ tiếng Việt sang tiếng Pháp… Theo thứ tự, lần lượt từng học sinh lên bốc thăm rồi trả lời. Một bạn không biết giải bài toán, cứ ngập ngừng mãi nên thầy giáo hỏi: “Có bạn nào giải được bài toán không?”. Tàu giơ tay và được thầy gọi lên bảng. Chưa hết phân nửa thời gian quy định, Tàu đã hoàn tất bài giải. Các môn khác cũng thế, Tàu trả lời rất nhanh trước sự ngạc nhiên, thán phục của các giáo sư người Pháp và học trò cùng trang lứa đến từ lục tỉnh Nam Kỳ.
Bỏ học vì nghèo

Tình báo Tư Cang tại khu căn cứ năm 1963 (ảnh nhân vật cung cấp)

Hai ngày sau, kết quả thi được công bố. Theo thứ hạng từ cao đến thấp, Tàu đứng ở số thứ tự là 7. Nghe tên mình được xướng lên, Tàu nhảy cẫng, reo hò vì sung sướng. Cũng vì không kiềm chế được cảm xúc mà Tàu bị thầy giám thị đến nhắc nhở. Tàu nằm trong số 30 học sinh đậu cao nhất và được trường cấp học bổng, bao gồm cả chi phí ăn, ở tại trường. Tin Tàu đậu cao, được học bổng lan truyền khắp làng, suốt mấy ngày liền bà con ùn ùn kéo đến chúc mừng. Hôm cả nhà, thầy giáo và bà con lối xóm đang quây quần bên nồi cháo gà ăn mừng thì nhận tin báo của trường gửi về. Nghe thì chẳng có gì quan trọng lắm nhưng với một gia đình nghèo thì số tiền trường thông báo phải đóng quả là không nhỏ với gần 200 đồng để mua sắm 6 bộ đồ bà ba màu trắng, 2 bộ đồ Tây, khăn tắm, khăn mặt… Ông ngoại dắt Tàu đi đến nhà bà con để hỏi vay mượn. Hết nhà này đến nhà khác, thứ duy nhất hai ông cháu nhận được là những cái lắc đầu, đã vậy ông ngoại còn bị rắn cắn ở chân tốn không ít tiền hốt thuốc. Chân chưa khỏi, ông ngoại lại đi sang làng bên hỏi vay. Lần này, có người đồng ý cho vay với điều kiện: “Đến mùa phải đong lúa giá rẻ”.
Lớp của Tàu gồm 30 học sinh đậu đầu bảng, cho học luôn 6 năm khỏi thi bằng Thành Chung như thông thường (4 năm thi Thành Chung). Năm đầu, Tàu chỉ đứng ở thứ hạng 20. Không phải vì Tàu lười biếng mà vì trong lớp phần lớn bạn đã rớt nhiều kỳ thi trước, gia đình khá giả nên được theo học các trường tư. Đến kỳ thi vô Pétrus Ký thì đăng ký, đậu lại học chương trình năm thứ nhất mà ở các trường tư đã dạy. Tàu quyết không chịu thua ai, cứ mỗi lần về quê mẹ lại cho 4 đồng. 2 đồng để dành tiền xe đi, về, hai đồng còn lại Tàu đi mua sách cũ về học thêm. Nhờ vậy mà năm thứ 2 Tàu đứng thứ hạng 15, năm thứ 3 hạng 10 và năm thứ 4 trở thành một trong 5 người giỏi nhất lớp.
Quân đội Nhật lấy Trường Pétrus Ký làm nơi đóng quân nên học sinh trường này phải nhập học tại Trường Trưng Vương, sau đó chuyển sang Trường Nữ sinh Gia Long (THPT Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay). Cuối năm 4, Nhật tiếp tục lấy Trường Gia Long, trường phải dời về Mỹ Tho. Con đường học vấn của Tàu dừng lại ở đó vì không đủ điều kiện đi lại. Tàu gia nhập Thanh niên Tiền phong của xã với nhiệm vụ bảo vệ cho thầy giáo Thái, người đã góp 5 đồng cho Tàu đi thi ở Sài Gòn.
Bài, ảnh:  Trần trọng tri
LTS: Nhân vật được nhắc đến trong loạt bài này nhân kỷ niệm 68 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944/22-12-2012) là tình báo Trần Văn Quang, (tên khai sinh là Nguyễn Văn Tàu), tức đồng chí Tư Cang, Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Cụm trưởng Cụm Tình báo H.63. Ông đã cùng các điệp viên tầm cỡ như Phạm Xuân Ẩn, Tám Thảo… chiến đấu hết mình, đồng thời lãnh đạo Cụm Tình báo H.63, góp phần làm nên đại thắng mùa xuân 1975.
 
Kỳ 2: Số làm tình báo

Bình luận (0)