Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Người tình báo của hai cuộc kháng chiến: Kỳ 5: Vào đồn Lý Nhơn

Tạp Chí Giáo Dục

Ông Tư Cang và vợ (thứ 3, 4 từ phải sang) cùng các chiến sĩ trinh sát tại căn cứ Bến Bình năm 1963 (ảnh nhân vật cung cấp)

Ông Tư Cang nhận nhiệm vụ đến đồn Lý Nhơn – đồn nổi tiếng với những tên chỉ huy ngoan cố, tàn bạo để yêu cầu Pháp cung cấp phương tiện đưa lực lượng võ trang Rừng Sác về Xuyên Mộc theo điều khoản của Hiệp định Genève.
Liệu phía Pháp có nghiêm chỉnh chấp hành hiệp định đình chiến như ta hay không? Một công việc không hề đơn giản đang đợi người tổ trưởng quân báo liên huyện. 
Bữa cơm tiễn biệt
Cuối tháng 7-1954, liên huyện Cần Đước – Cần Giuộc – Nhà Bè nhận được bức điện khẩn từ trên tỉnh gửi xuống với nội dung triển khai ngưng bắn trên toàn chiến trường (Hiệp định Genève về đình chỉ chiến sự trên toàn cõi Đông Dương ký kết vào ngày 20-7-1954). Lúc bấy giờ, việc truyền lệnh cho từng đơn vị lớn, nhỏ trong liên huyện không dễ vì chiến trường rộng, phương tiện liên lạc thì thiếu thốn, hơn nữa địa hình sông ngòi chằng chịt. Để chấp hành nghiêm túc việc đình chiến trên toàn chiến trường, cấp trên lệnh tất cả xuồng to, xuồng nhỏ từ trong căn cứ được huy động để làm nhiệm vụ truyền lệnh ngưng bắn đến các đơn vị. Thời điểm này, nhiều cánh quân, đại đội đã tiến sát cầu Chữ Y, cầu Rạch Ông… và rào bót Cần Giờ nơi quân Bảy Viễn đóng. Tất cả đã sẵn sàng, chỉ chờ lệnh nổ súng. Lệnh ngưng bắn được các đồng chí liên lạc hỏa tốc chuyển đến tay Đại đội trưởng. Được lệnh, nhiều đại đội phải rút ra sau cả tháng ròng xác định mục tiêu và nghiên cứu phương án đánh.
Theo Hiệp định Genève, lực lượng võ trang các tỉnh miền Đông Nam bộ phải rời chiến trường, tập trung về Xuyên Mộc và sau 80 ngày, kể từ ngày ký hiệp định, tàu thủy của Pháp sẽ chuyển lực lượng vũ trang của ta ra miền Bắc. Để thực hiện công tác này, tổ chức yêu cầu phải cử một cán bộ đến đồn Lý Nhơn thảo luận với chỉ huy tiểu khu để chúng cung cấp thuyền và chuyển quân an toàn theo điều khoản của hiệp định. Liên huyện xét thấy người có thể làm công việc này là Trần Văn Quang (tức Tư Cang). Nhiệm vụ không hề đơn giản, nhiều câu hỏi đặt ra trong đầu ông Tư Cang nhưng chưa có lời giải đáp. Đồn Lý Nhơn nổi tiếng ngoan cố, tàn bạo, liệu chúng có “quên” những điều khoản ký trong hiệp định hay không?
Ông Tư Cang nhận nhiệm vụ và được phép chọn thêm hai đồng chí đi cùng. Hai người này tên Mặn và Bờ, to khỏe nhất trong Tổ quân báo. Ông Tư Cang nói thật như đùa: “Tôi chọn hai anh to khỏe này là để đề phòng tình huống xấu nhất, tôi có bị thương thì họ có thể vác tôi mà chạy”.
Trước khi lên đường làm nhiệm vụ, Ban chỉ huy Huyện đội cho tổ chức một bữa cơm, có rượu đế nếp lai rai, sau đó là tiệc trà cứ như gặp lần này không biết khi nào gặp lại. Vì đình chiến trên toàn chiến trường nên ba người không trang bị vũ khí, cầm cây cờ màu xanh (màu quy ước giữa ta và địch) xuôi theo con nước ròng thẳng đến đồn Lý Nhơn. Bờ là người Lý Nhơn nên những con rạch, con tắc anh ta rành sáu câu, nhờ vậy mà chỉ mất một ngày, một đêm là đã đến xã Lý Nhơn.
Từ hàng rào bảo vệ, phát hiện ba người cột xuồng rồi đi bộ men theo bờ ruộng thẳng hướng vào đồn, toán lính gác liền cầm súng chạy vào tháp canh. Mặn cầm cờ đi trước, ông Tư Cang đi giữa và bảo vệ phía sau là Bờ. Đi đoạn chừng 300m nữa là tới đồn, là khoảng cách vừa tầm của đại liên và trung liên, ông Tư Cang cho dừng lại, lệnh cho Mặn dang thẳng tay cho lá cờ tung bay để chúng dễ nhận ra. Người chỉ huy động viên: “Là chiến sĩ Rừng Sác, chúng ta chỉ có tiến lên, còn một người cũng dũng cảm tiến lên”. Đi thêm đoạn nữa thì thấy một chiếc xe hơi mà bọn chỉ huy Pháp thường sử dụng đang tiến về phía ngọn rạch. Xe dừng lại, ba tên chỉ huy của Pháp không mang súng bước xuống, chỉnh tề trang phục. Ông Tư Cang dặn dò hai người đi cùng: “Tụi nó đưa tay bắt thì cứ mạnh dạn bắt tay, đừng rụt rè. Mình là người chiến thắng, là những quân nhân lịch sự, có văn hóa, đừng để tụi nó khinh”.
Hoàn thành nhiệm vụ
Nhận ra ông Tư Cang là chỉ huy, tên quan ba lịch sự đưa tay ra bắt và chào hỏi. Tên quan ba nói: “Ngay sau khi có lệnh đình chiến, tôi cho ca nô cắm cờ xanh chạy khắp nơi kiếm các ông để nói chuyện nhưng không thấy trả lời, buồn thật”. Hắn kiếm không ra người của ta là phải vì toán biệt kích của chúng hoạt động ráo riết, lực lượng vũ trang của ta đã lùi ra xa bót Lý Nhơn những mấy ngày đường. Thế nhưng ông Tư Cang không nói vậy, mà giọng đanh thép: “Vì lệnh ngừng bắn chúng tôi phải chấp hành chứ không tôi cho chấm điện thủy lôi nổ tan xác các ông rồi”.
Chúng cho quay đầu xe, lễ phép mời ba người lên xe về đồn. Ông Tư Cang tranh thủ trình bày nội dung cần thảo luận theo sự phân công. Chiếc xe hơi đỗ xịch trước sân, toán lính cũng đã đứng sẵn lễ phép chào hỏi. Cả ba người được mời vào phòng họp của chỉ huy, tên quan ba còn mời cả phiên dịch. Biết người đứng ở góc bàn là phiên dịch, ông Tư Cang nói: “Tôi có thể trao đổi với các ông bằng tiếng Pháp”. Lúc này, không ít người trố mắt nhìn. Trước khi vào việc, hai bên nâng chén rượu mừng sự kiện ngưng bắn. Ông Tư Cang yêu cầu đúng ngày 10-8, Pháp phải cho phương tiện vận chuyển tập kết  trên sông Vàm Sát để đưa 400 người của ta về Xuyên Mộc. Sở dĩ chỉ có 400 người là vì cấp trên của ta yêu cầu cán bộ hành chính, đoàn thể không đi trong chuyến này mà chỉ có quân nhân. Phía Pháp đồng ý điều bốn chiếc ghe buồm, mỗi chiếc có sức chứa 100 người nhưng ông Tư Cang đề nghị thêm một chiếc nữa cho rộng rãi.
Khi ra về, ông Tư Cang nhấn mạnh: “Người của chúng tôi được lệnh tập kết ở các khu vực theo lệnh. Trong những ngày này, các ông không được bắn vào xuồng, ghe làm nhiệm vụ vận chuyển người đến điểm tập kết. Nếu các ông vi phạm sẽ chịu trách nhiệm trước Ủy ban Quốc tế”. Ca nô đưa ba người cùng các tên chỉ huy đến địa điểm mà quân nhân của ta sẽ tập kết. Trước khi chia tay, ông Tư Cang còn tặng cho tên chỉ huy cây cờ màu xanh để làm kỷ niệm.
Thời gian ấy, trong lòng các đồng chí ở Huyện đội như có lửa đốt, kim châm. Nhiều câu hỏi đưa ra: Có thể bị quân Bảy Viễn thủ tiêu, phía Pháp không chấp hành điều khoản của hiệp định… Đang sốt ruột chờ tin thì ông Tư Cang xuất hiện, dõng dạc: “Báo cáo các đồng chí, chúng tôi đã vào đồn giặc và ra an toàn”.
Trần Trọng Tri
Kỳ 6: Kỷ niệm vui về những chú gà

Bình luận (0)