|
“Cô Sáu Cầu Ông Lãnh” cùng các trẻ em ở Trường Nhi đồng miền Nam, thời bà làm Giám đốc trường này (ảnh gia đình cụ Nguyễn An Ninh cung cấp)
|
Từ khi trưởng thành là nhà cách mạng, phía sau Nguyễn An Ninh luôn có hình bóng của người vợ hiền hết lòng vì chồng, vì nước. Thời gian này, ông cũng đã cảm hóa nhiều phần tử bất hảo trở thành lực lượng bảo vệ an ninh…
Người vợ hiền, dâu thảo
Chừng một năm quen với “cô Sáu Cầu Ông Lãnh” thì ông Ninh đề cập chuyện hỏi cưới với hai điều kiện: Thứ nhất là cô Sáu không nghĩ đến chuyện buôn bán làm giàu; thứ hai là phải về Trung Chánh, Mỹ Hòa ở. Trước khi cô Sáu về nhà chồng ở Trung Chánh, cô đã bán cửa tiệm may, vải vóc và máy móc với số tiền khoảng 10 ngàn đồng, vàng và hột xoàn. Cũng từ số tiền này mà cô có điều kiện giúp chồng và các anh em thân hữu hoạt động.
Khi về mua đất ở Trung Chánh, Mỹ Hòa, Hóc Môn một thời gian, ông Nguyễn An Khương sống với bà Mai Thị Nữ, một nông dân chất phác trong vùng. Bà Nữ có một người con riêng đã lập gia đình. Ngày mới về làm dâu, cô Sáu vẫn thường mặc áo dài nhung đen, cổ và tay đeo nhiều dây chuyền và hột xoàn, chân lúc nào cũng mang đôi hài thêu. Bà Nữ tỏ ra khó chịu về cách ăn mặc của hai người. Chính vì kiểu ăn mặc như thế mà có không ít người hỏi ông Ninh rằng cô Sáu có phải người của Pháp cài vào để theo dõi chúng ta không? Ông Ninh cười nhẹ, rồi gạt suy nghĩ không ra hồn của người hỏi. Cha chồng tinh ý, dùng lời lẽ nhẹ nhàng nói để con dâu hiểu cuộc sống bà con quanh mình còn lắm cơ hàn. Con dâu hiểu nên cất hết tư trang và thay đổi cách ăn mặc cho giống người trong làng.
Tuy quen buôn bán nhưng bà Sáu sớm thích nghi với việc nhà nông. Thời gian ông Ninh đi Pháp để đón cụ Phan Chu Trinh về nước, cô Sáu ở nhà làm đất trồng đủ loại cây ăn trái. Nào là xoài, trầu, cau, ổi, riêng xoài lên đến 250 gốc cho trái sum sê. Ngoài trồng cây, cô Sáu còn nuôi gà, ngựa đua, bò… Chỉ sau một thời gian ngắn, hai bàn tay của cô Sáu đã chai cứng, đen cháy. Ngày lo trồng trọt, chăn nuôi, đêm đến người bầu bạn duy nhất của cô Sáu là vợ của chú Hai (ông Nguyễn An Hải – con trai của mẹ kế ông Nguyễn An Ninh). Vợ ông Hai kém hơn cô Sáu ít tuổi. Đêm đến, ai ngủ buồng đó. Trước khi ngủ, hai người hùn hộp que diêm nối sợi chỉ dài để chơi trò nói chuyện điện thoại cho khuây khỏa.
Sáu tháng sau, chồng về nước, cô Sáu cũng trà trộn vào dòng người đi đón chồng. Tay bắt mặt mừng với anh em nhưng mắt ông Ninh cứ dõi theo đám đông tụ họp để tìm vợ. Từ xa, cô Sáu chạy đến, nói: “Tôi đây nè”. Ông Ninh nắm chặt tay vợ rồi đưa lên hôn tới tấp những chỗ chai sần. Trước đám đông, cô Sáu phải nhắc khéo để chồng kiềm chế cảm xúc. Sau sáu tháng xa cách, đêm ấy vợ chồng tâm sự với nhau đến gần sáng. Ông Ninh bàn với cha cất một căn nhà nhỏ trên mảnh đất của gia đình ở phía bên kia đường cho vợ thoải mái hơn. Được ra riêng nhưng hàng ngày cô Sáu phải sang chăm sóc vườn và phụng dưỡng cha chồng. Cô Sáu là một mẫu người dâu thảo ngoan hiền được ông Khương ưng bụng lắm. Một đêm nọ, ông Khương bị tai biến, cấm khẩu. Bà Nữ gọi con dâu chạy sang. Thấy cô Sáu, ông Khương ra dấu bảo mang giấy viết lại cho ông. Ông gắng gượng viết toa thuốc và sai đích thân con dâu đi mua về sắc cho ông uống. Hôm sau, ông Khương nói được bình thường.
Cảm hóa người xấu
Lúc bấy giờ miệt Trung Chánh, Mỹ Hòa, Hóc Môn trộm cướp nhiều vô kể, đêm lại ít ai dám ra đường. Nhà nào nuôi được con heo, con gà mà lơ đễnh là tối lại mất ngay. Từ ngày ông Nguyễn An Ninh về Trung Chánh ở, bất kể giờ giấc nào có thể, ông thường dành thời gian gần gũi với bà con, đặc biệt là đối tượng trộm cướp có tiếng trong vùng. Ông gặp gỡ, chủ động bắt chuyện và phân tích điều hay lẽ phải cho những “đàn anh, đàn chị” nghe. Mỗi ngày ông nói một ít theo kiểu mưa dầm thấm lâu, từ đó nạn trộm cướp trong làng giảm hẳn, bà con yên tâm lao động.
Nghe tên những tay anh chị ở xã Mỹ Hòa ai cũng lắc đầu ngao ngán nhưng với ông Ninh thì khác, ông còn dám gửi họ trông coi nhà cửa, ruộng vườn mỗi khi vắng nhà lâu ngày. Không ít lần cô Sáu trách chồng ai lại đi gửi nhà cửa, của cải cho bọn trộm cướp trông coi, ông Ninh liền gạt phăng: “Mình tin tưởng người ta thì không ai nỡ lấy đồ đạc của mình. Hơn nữa trộm cướp bây giờ cũng đã giảm hẳn”. Có ai ngờ những tay đầu trộm đuôi cướp kia sau này trở thành lực lượng bảo vệ an ninh cho cả vùng Bà Điểm, đặc biệt là căn nhà mà vợ chồng ông đang làm trạm liên lạc cũng như bàn bạc kế hoạch hoạt động cách mạng.
Chuyện ông Ninh thu phục thành phần bất hảo có thể nói là một kỳ tích. Ông đã chuyển hóa con người bằng chính nhân cách của mình. Ông không lạm dụng ngôn ngữ hàn lâm của người trí thức để răn dạy người mà dùng từ ngữ rất bình dân, lối dẫn chuyện hóm hỉnh, dễ nghe. Và chính cái giản dị, chất phác từ con người ông mà thành công. Lúc ông bị kết án tù cũng vậy. Vào tù, con người ta dễ bộc lộ thói xấu, nhất là những tù nhân có gốc gác trộm cướp, buôn gian bán lận. Những thành phần này thường tranh nhau phần ăn, uống cho đến chỗ nằm. Khi cô Sáu đi thăm chồng mang nhiều thức ăn và thuốc lá, ông Ninh lại mang chia hết cho họ. Chính thái độ cởi mở, nhẹ nhàng, lịch thiệp và thương người của ông đã làm thay đổi hẳn tính khí bốc đồng, vì cái lợi riêng của anh em tù nhân. Họ nói: “Nghe tiếng ông đã nể phục, nay gặp ông như Phật lại càng phục hơn”. Mỗi ngày, ông Ninh tranh thủ giảng giải cho anh em tù nhân hiểu vì sao đói khổ mà sinh ra trộm cướp. Làm cách mạng để không còn kẻ giàu người nghèo. Mọi người cách mạng phải đoàn kết, thương yêu nhau. Ông còn dạy văn hóa, lịch sử nước nhà, nói về lẽ sống của bậc tiền nhân những khi có thể. Ông Ninh vào tù mới chỉ vài ngày nhưng cảnh la hét, tranh giành hỗn loạn trong tù không còn nữa khiến bọn lính cai ngục cũng lấy làm ngạc nhiên. Bọn chúng tự đặt câu hỏi: Không hiểu ông Ninh nói chuyện thế nào mà họ thay đổi như thế, trong khi đó dùi cui, roi… thì lại không sợ?
Trần Tuy An
Kỳ cuối: Tỏa hương cho đời


Bình luận (0)