Tuyên truyền pháp luậtGia đình - Xã hội

Những “chúa kho” vũ khí: Kỳ 2: Căn hầm trong lòng địch

Tạp Chí Giáo Dục

Bà Phan Thị Thúy trong lần trở lại căn nhà 99/1C, phía dưới là hầm vũ khí (ảnh tư liệu nhân vật cung cấp)

Với tiệm may và tấm ảnh của một sĩ quan không quân làm bức bình phong, bà Phan Thị Thúy đã trông coi, giữ bí mật hầm vũ khí trong lòng địch một thời gian dài.
Nhận nhiệm vụ
Trong số những kho vũ khí lớn nằm rải rác ở các quận trung tâm Sài Gòn trước năm 1975 có kho vũ khí đặt tại số nhà 99/1C đường Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ, Q.Tân Bình – TP.HCM). Kho do ông Phan Văn Bảy, lúc bấy giờ là cán bộ trực thuộc đơn vị bảo đảm chiến đấu mua nhà và trực tiếp xây dựng. Ban đầu, nó chỉ là căn nhà lá, ông Bảy cho xây thành nhà cấp 4 với một phòng khách, một phòng ngủ, nhà bếp và một căn hầm bí mật.
Hầm xây xong, sợ bị lộ, đơn vị đã điều chuyển ông Bảy về chiến khu ở Củ Chi. Thời gian này, con ông Bảy là bà Phan Thị Thúy đã có gia đình. Bà Thúy có một người con và đang mang thai đứa thứ hai được năm tháng. Năm 1965, chồng bà Thúy đang làm công nhân cũng vào chiến khu. Tháng 8-1965, bà Thúy sinh con. Cháu được 1 tuổi, ông Bảy từ chiến khu về hỏi con gái: “Con đã sinh rồi. Mẹ tròn con vuông. Nay ba muốn con giúp trông coi căn nhà 99/1C”. Nói là “trông coi” nhà chứ thật ra đó là giữ một cái kho vũ khí lớn. Nhận thấy đây là công việc không hề đơn giản nhưng vì ba đã tin tưởng giao cho mình, bà Thúy mạnh dạn đồng ý. Bà Thúy đưa hai con và người em gái về nhà mới theo lời của ba.
Cấp trên chỉ huy trực tiếp ông Phan Văn Bảy là đồng chí Đỗ Tấn Phong. Bà Thúy lại là cấp dưới của ông Bảy. “Lúc bấy giờ, tôi làm việc theo sự chỉ đạo của ba. Nhiệm vụ của tôi là canh giữ kho vũ khí. Khi nào có thông báo, ám hiệu thì nhận và giao hàng. Thường khi có thông báo, tôi nhận được nửa tờ tiền. Người đến nhận vũ khí mang theo nửa còn lại”, bà Thúy nói. Khu nhà mới có rất đông lính Mỹ ở. Sống trước miệng hùm, tai mắt thật giả khó lường, bà Thúy đặc biệt cảnh giác. Để tạo vỏ bọc, nhờ có nghề may, bà Thúy mở tiệm nhận may đồ cho người dân quanh đó, ngoài họ còn có một lượng khách lớn là những cán bộ, chiến sĩ thường xuyên lui tới (trong vai khách hàng đến để giao, nhận vũ khí). 
Căn nhà 99/1C có chiều dài 12m, bề ngang khoảng 3,5m. Nhà có gác gỗ ngụy trang bằng ván ép đóng phía dưới để che giấu cán bộ. Hầm vũ khí đặt cạnh hầm cầu, chia làm hai ngăn riêng biệt và có lỗ thông hơi thiết kế ngụy trang như ống khói bếp. Chiếc giường ngủ của mẹ con bà Thúy được đặt trên miệng hầm. Phía trước nhà đặt chiếc máy may và tủ quần áo may sẵn. Ngày chị em và hai đứa trẻ về ở, hàng xóm thường xuyên bàn tán, tìm hiểu. Bà tìm đủ mọi cách để che giấu. Tình cờ, bà nhặt được tấm ảnh của một đại úy không quân ngoài đường. Bà nghĩ thầm, tấm ảnh này sẽ là tấm bình phong. Bà đem ảnh phóng to treo trên tường. Một sĩ quan không quân “hiện diện” trong nhà, có giá trị hơn bà tưởng. Mỗi lần có ai hỏi, bà trả lời tỉnh rụi: “Ba tụi nhỏ đó. Ổng theo vợ bé, không thèm ngó ngàng gì tới mẹ con tui. Khó khăn, tôi phải vừa chăm con vừa may vá để nuôi con”. Được thấy ảnh ông sĩ quan, được nghe bà nói như thật, ai mà không tin. Từ đó, mọi hoạt động của hầm vũ khí có phần thuận lợi hơn nhiều. Đều đặn những chuyến xe ba gác chở vũ khí đến vào buổi trưa được chuyển nhanh gọn vào hầm mà không bị phát hiện. Địa thế của căn nhà cũng được ông Bảy chọn rất kỹ, có hai lối đi trước và sau. Người vào lắp ráp vũ khí xong thì rút theo ngõ sau.
Bị bắt
Sau giải phóng, căn nhà 99/1C thuộc sự quản lý của Q.Tân Bình. Khi bà Thúy trở lại, căn nhà này được cấp cho một gia đình sĩ quan, đến nay đã bán qua nhiều đời chủ và hầm vũ khí cũng không còn nữa. Hiện bà Thúy đang cư ngụ tại số 118/10 Trần Kế Xương, Q.Phú Nhuận.
Mỗi lần ông Bảy cần gặp con bàn kế hoạch chiến đấu, ông vào vai khách may đồ, hỏi thăm đến nhà. Năm 1968, ông Bảy từ cứ về báo sẽ có người đến nhận hầm và lắp ráp vũ khí. Thời gian chờ đợi người đến, bà Thúy sốt ruột, lo hơn cả những lần chuyển vũ khí đến. Khi lắp ráp, để hạn chế tiếng động, bà Thúy cho mở radio hết công suất và may vá để át tiếng.
Thời gian sau, tên Tám Bền chiêu hồi dắt khoảng 15 người về nhà. Rất may hôm ấy, ba mẹ con bà Thúy dắt nhau về nhà nội chơi (nhà mẹ chồng bà). Lúc đó, em gái của bà Thúy, tên Nguyễn Thị Hạnh được chị giao nhiệm vụ về nghe ngóng tình hình. Vừa đến đầu hẻm, bà Hạnh phát hiện chiếc xe GMC của cảnh sát đang đậu. Đi cùng họ có người đàn ông mặt mày thâm tím, bê bết máu vì bị chúng đánh đập. Còn trong nhà, cảnh sát đã phá tan mọi thứ, hầm vũ khí cũng được lật tung để kiểm tra.
Sau hơn hai tháng sống tạm bên nhà mẹ chồng, bà Thúy bồng đứa con nhỏ ra cứ để tránh sự truy lùng. Hơn 1 năm sau, tức đầu 1970 mới trở về thành phố hoạt động lại với nhiệm vụ trinh sát. Để nắm thông tin, hàng ngày bà Thúy mặc áo dài dắt con đi dạo khắp nơi như giới thượng lưu. Thời gian này, cảnh sát ráo riết truy lùng “cô thợ may có chồng là sĩ quan”. Ngày 15-2-1971, bà Thúy cùng người em đi xe máy trên đường Chi Lăng, nay là đường Phan Đăng Lưu thì bị chiêu hồi chỉ điểm, bắt tại ngã tư Phú Nhuận. Tên lính viện cớ: “Có người nói chị mua xe gian. Cả hai theo tôi về đồn Tân Bình”. Không tìm ra manh mối nơi người em nên chúng thả về. Còn bà Thúy bị đưa về Tổng nha cảnh sát. Bà bị kết án 8 năm tù qua các trại Thủ Đức, Tân Hiệp rồi lại đày ra địa ngục trần gian Côn Đảo.
Ông Phan Văn Bảy bị bắt tại tiệm Phở Bình (Sở Chỉ huy tiền phương) tại số 7 Yên Đỗ (nay là đường Lý Chính Thắng) cùng với 13 đồng chí khác ngay trong đêm mùng 3 Tết năm Mậu Thân 1968. Sau này khi về cứ, bà Thúy mới được nghe các chú, các bác kể lại cha bà bị thủ tiêu ngay trong đêm đó cùng với đồng chí Hai Xích.
Trần Tuy An
Kỳ 3: Mẹ của “tù nhân không số”
Nhắc đến bà “chúa kho” Lê Thị Chi, đồng đội ai nấy cũng rơm rớm nước mắt kể lại câu chuyện “tù nhân không số”, con trai của bà mới 5 tuổi đã rơi vào tay địch. 

Bình luận (0)