Y tế - Văn hóaVăn hóa nghệ thuật

Những đóng góp nổi bật của Đại thi hào Nguyễn Du

Tạp Chí Giáo Dục

Nguyn Du (1765-1820), tên ch T Như, hiu Thanh Hiên, là mt trong nhng danh nhân văn hóa ln nht ca dân tc Vit Nam. Sinh ra ti Thăng Long (Hà Ni ngày nay) trong mt gia đình quý tc có truyn thng văn hc, cha là Nguyn Nghim – mt tng dưi triu Lê – Trnh, ông ln lên trong cnh giàu sang nhưng sm chng kiến nhng biến đng lch s d di cui thế k XVIII – đu thế k XIX.

Đại thi hào Nguyễn Du. Ảnh tư liệu

Cuộc đời Nguyễn Du gắn liền với những thăng trầm: gia đình suy vong sau vụ án năm Canh Tý (1780), anh cả của Nguyễn Du là Nguyễn Khản đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn, bị bãi chức và bị giam, ông phiêu bạt nhiều năm, trải qua nghèo khó, rồi ra làm quan dưới triều Nguyễn với các chức vụ như Đông các học sĩ, Chánh sứ đi Trung Quốc… Những trải nghiệm ấy đã hun đúc nên một nhà thơ thiên tài, một nhà nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc. Năm 1965, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Nguyễn Du, Hội đồng Hòa bình Thế giới kết hợp với Việt Nam long trọng tổ chức kỷ niệm nhân 200 năm ngày sinh của nhà thơ. Tại kỳ họp thứ 37 Đại hội đồng UNESCO ở Paris (Pháp) ngày 25-10-2013, Đại thi hào Nguyễn Du đã được chọn là nhân vật văn hóa do thế giới vinh danh, nhân kỷ niệm 250 năm ngày sinh của ông vào năm 2015.

Đóng góp nổi bật nhất của Nguyễn Du là ở lĩnh vực văn học, với kho tàng sáng tác đồ sộ bằng cả chữ Hán và chữ Nôm. Ông để lại ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập (78 bài, sáng tác giai đoạn ẩn dật), Nam trung tạp ngâm (40 bài, phản ánh cuộc sống miền Nam) và Bắc hành tạp lục (132 bài, ghi lại chuyến đi sứ Trung Quốc năm 1813). Những tập thơ này thể hiện tài năng uyên bác trong việc vận dụng thể thơ Đường luật, ngũ ngôn, thất ngôn, với cảm hứng nhân đạo sâu sắc, thương cảm cho kiếp người nhỏ bé, bất hạnh.

Tuy nhiên, đỉnh cao sáng tạo của Nguyễn Du là các tác phẩm chữ Nôm, đặc biệt là Đoạn trường tân thanh (tức Truyện Kiều), hoàn thành khoảng 1805-1809. Dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), nhưng Nguyễn Du đã sáng tạo vượt bậc, biến tác phẩm thành kiệt tác bất hủ của văn học Việt Nam. Với 3.254 câu thơ lục bát, Truyện Kiều kể về số phận bi kịch của Thúy Kiều – một người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp qua 15 năm lưu lạc. Tác phẩm không chỉ là câu chuyện cá nhân mà là bức tranh hiện thực rộng lớn về xã hội đương thời: tố cáo mạnh mẽ thế lực thống trị tàn bạo, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp con người, khát vọng tự do, công lý.

Giá trị nhân đạo là hạt nhân tư tưởng của Truyện Kiều. Nguyễn Du đề cao “chữ tình”, thương xót sâu sắc cho những kiếp người bất hạnh, đặc biệt phụ nữ và tầng lớp dưới đáy xã hội. Ông khẳng định giá trị tự thân của con người, bất kể xuất thân: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Tư tưởng này vượt qua ràng buộc phong kiến, mang tính nhân văn hiện đại, ảnh hưởng lớn đến các thế hệ sau. Về nghệ thuật, Nguyễn Du đã đưa thể thơ lục bát dân tộc lên đỉnh cao cổ điển: ngôn ngữ tinh luyện, kết hợp hài hòa bác học và bình dân, giàu hình ảnh, nhịp điệu. Ông miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế, xây dựng cốt truyện hấp dẫn với điểm nhìn nội tâm, tạo nên sức sống bất diệt cho tác phẩm.

Ngoài Truyện Kiều, Nguyễn Du còn có Văn chiêu hồn (hay Văn tế thập loại chúng sinh), tác phẩm chữ Nôm nổi bật khác với 184 câu song thất lục bát, chiêu hồn cho các loại cô hồn, thể hiện lòng thương bao la đối với kiếp người phiêu bạt, chết oan. Các tác phẩm khác như Thác lời trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu cũng đậm chất dân gian và chủ nghĩa nhân đạo.

Đóng góp của Nguyễn Du không chỉ dừng ở sáng tác mà còn ở việc nâng tầm ngôn ngữ tiếng Việt. Ông làm cho tiếng Việt trở nên giàu đẹp, trong sáng, tinh tế, đặt nền móng cho văn học hiện đại.

Đó là Nguyễn Du kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ bác học (từ Hán Việt) và ngôn ngữ bình dân, tạo nên sự hài hòa, trong sáng và giàu sức biểu cảm. Ông giảm đáng kể tỷ lệ từ Hán Việt, thay vào đó chọn những từ đã được Việt hóa hoặc sáng tạo cách dùng mới để gần gũi hơn với đời sống nhân dân. Ví dụ, gần 30% từ gốc Hán trong Truyện Kiều được ông xử lý khéo léo, làm cho chúng dễ hiểu và hòa quyện với từ thuần Việt. Đồng thời, ông vận dụng linh hoạt khẩu ngữ, thành ngữ, ca dao, tục ngữ dân gian, giúp ngôn ngữ trở nên sống động, gần gũi nhưng vẫn trang nhã.

Đó là Nguyễn Du làm phong phú vốn từ tiếng Việt bằng cách sáng tạo từ láy và cấu trúc mới. Ông sử dụng dày đặc từ láy như “lập lòe”, “lơ thơ”, “long lanh”, “tà tà”, “hiu hiu”, “thơ thẩn”, “tưng bừng”, “thánh thót”, “thăm thẳm”, “thoang thoảng”… Những từ này không chỉ tăng tính nhạc điệu mà còn miêu tả tinh tế cảm xúc, cảnh vật, tâm lý nhân vật. Ông còn phá vỡ cấu trúc cũ để tạo từ ngữ mới, như “mùi nhớ”, “lá gió”, “cành chim”, “ngậm gương” (trăng ngàn ngậm gương)…, mang tính hiện đại và giàu hình ảnh, góp phần đưa tiếng Việt lên tầm cao nghệ thuật chưa từng có.

Đó là ông Việt hóa điển cố, điển tích Hán học, biến chúng thành biểu đạt thuần Việt. Thay vì dùng trực tiếp điển Hán, Nguyễn Du dịch sáng tạo như “chim xanh”, “chắp cánh liền cành”, “chén hà”, “giấc hòe”… Điều này không chỉ làm ngôn ngữ dễ tiếp cận mà còn giữ gìn bản sắc dân tộc, tránh sự lệ thuộc vào văn hóa ngoại lai.

Đó là qua thể thơ lục bát trong Truyện Kiều, Nguyễn Du nâng tầm nhịp điệu và vần luật tiếng Việt. Ông biến ngắt nhịp đa dạng, tiểu đối phong phú, khiến câu thơ vừa thông tục vừa diễm lệ, tránh nhàm chán dù lặp lại nhịp điệu. Nhờ đó, tiếng Việt đạt chức năng thẩm mỹ cao: không chỉ phản ánh hiện thực, biểu cảm cảm xúc mà còn tạo vẻ đẹp ngôn từ “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.

Cuối cùng, đóng góp của Nguyễn Du khiến Truyện Kiều hòa nhập sâu vào đời sống dân tộc: bói Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, trở thành nguồn cảm hứng cho ca dao, tục ngữ mới. Như Phạm Quỳnh nhận định: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn”. Nguyễn Du đã trau dồi, làm giàu tiếng Việt, biến nó thành ngôn ngữ văn học tinh tế, phong phú, đặt nền móng cho sự phát triển sau này.

Truyện Kiều đã trở thành nguồn cảm hứng cho hội họa, âm nhạc, sân khấu. Tác phẩm được dịch sang hơn 20 thứ tiếng, khẳng định vị thế văn học Việt Nam trên thế giới. Những đóng góp này khẳng định Nguyễn Du là bậc thầy ngôn ngữ, giúp tiếng Việt khẳng định vị thế bất hủ trong văn học dân tộc và thế giới.

Trong bài Sự lớn lao của một thiên tài dân tộc, đăng ở số 209, số đặc biệt kỷ niệm 200 năm ngày sinh đại thi hào, trên Tạp chí Bách khoa, nhà văn Vũ Hạnh đã viết: “Tính đến năm nay – 1965 – thi hào Nguyễn Du hưởng thọ được 200 tuổi. Suốt hai thế kỷ sống giữa chúng ta, thiên tài văn học lỗi lạc bậc nhất của dân tộc Việt không ngừng chói sáng, và mỗi ngày càng chói sáng hơn lên. Thiên tài ấy đã kết tụ tinh hoa của mấy ngàn năm phát triển ngôn ngữ sáng tạo Việt Nam; trong ngôn ngữ ấy tổ tiên chúng ta đã gởi bao nhiêu ý tình, biết mấy công phu, tưởng như trong mỗi hình ảnh, câu thơ chúng ta vẫn nhìn thấy được long lanh từng giọt mồ hôi, vẫn nghe thánh thót từng dòng máu chảy. Và thiên tài ấy, bằng mối thông cảm sâu xa của một năng lực tim óc phi thường, đã ghi nhận được ở trong quằn quại của những kiếp người lầy lội, một tiếng kêu gào bi thảm, kêu gào hạnh phúc yên vui, kêu gào được sống đời đáng sống trên cõi đời này”.

Hơn 200 năm qua, Nguyễn Du vẫn là biểu tượng của lòng nhân ái và tài năng thi ca. Ông không chỉ là đại thi hào dân tộc mà còn là danh nhân văn hóa của nhân loại, với di sản trường tồn, lay động trái tim bao thế hệ. Nguyễn Du mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

ThS. Nguyn Minh Hi

Bình luận (0)