“Con không có mẹ”
|
Hạnh phúc của mẹ Đỗ Thị Ty là dạy cho các con học hành |
241 đứa trẻ đang sống trong vòng tay yêu thương của các mẹ, các dì ở làng trẻ SOS mang 241 câu chuyện đời đầy nước mắt khác nhau nhưng có chung một điểm là khát khao được một lần sà vào vòng tay yêu thương của các bậc cha mẹ rứt ruột sinh ra mình!… “Con không có mẹ!” – Câu nói ấy bật ra từ một đứa trẻ lên 3 ở làng trẻ SOS tên L.T.B. Cô Lê Thị Thu Hà, Giám đốc Làng trẻ SOS Đà Nẵng cất chất giọng trầm buồn: “Tiêu chí của làng là chỉ nuôi trẻ mồ côi. Nhưng xét hoàn cảnh của em cũng chẳng khác một đứa trẻ mồ côi khi các bậc làm cha làm mẹ của em còn quá trẻ dại…”. L.T.B là kết quả của một cuộc tình sinh viên “non cơm già gạo”. Ba năm rồi không thấy hai sinh viên ấy trở lại thăm con. Các mẹ đã dồn hết tình thương cho em như chính khúc ruột của mình.
Ở làng trẻ SOS này, mỗi phận đời là một câu chuyện thật buồn. Câu chuyện về em L.V.L (12 tuổi) lại càng kém may hơn. Ở cái tuổi 49, mẹ L. sau bao năm khát khao, quyết định sinh con để nương nhờ hôm sớm. Bỏ qua mọi lời dị nghị của xóm làng, người phụ nữ ấy đi kiếm con. Ít lâu sau L. cất tiếng khóc chào đời trong hạnh phúc vỡ òa muộn màng của người phụ nữ ấy. Nhưng niềm hạnh phúc chưa được 60 ngày có lẻ, một cơn đau tim bất ngờ khiến người mẹ vĩnh viễn lìa xa. L.V.L được đón vào mái nhà chung làng trẻ. 10 năm sống cùng mẹ và các anh chị em, được tới trường như bao đứa trẻ khác nhưng đôi mắt L. vẫn luôn ẩn chứa nỗi buồn sâu thẳm.
Bà Lê Thị Thu Hà trầm tư cho biết, cơn bão Chanchu và Xangsane tầm 2006-2007, làng lại đón vào nhiều trường hợp hai ba anh chị em mồ côi cha mẹ. Có em còn mơ ngủ, tưởng ba mẹ đi biển trở về liền lật đật gọi các em dậy ra đón tàu cá mẹ về… Nhìn thấy cảnh ấy, các mẹ vừa vỗ về các em vừa lặng lẽ quay đi ngăn dòng nước mắt chực trào.
Những người nguyện làm thuyền vượt biển
Thương cảm trước những số phận mồ côi tội nghiệp, nhiều người phụ nữ quyết định bỏ ngang công việc của mình để tình nguyện vào trại trẻ chăm sóc các em mong bù đắp phần nào tình yêu thương bị đánh mất…
Một trong những người phụ nữ ấn tượng nhất ở Làng trẻ SOS Đà Nẵng là bà Lê Thị Thu Hà, Giám đốc làng trẻ. Ở vào cái tuổi 56, bà có nét đẹp dịu hiền của một người mẹ mẫu mực có hàng trăm đứa con. Sự thân mật, trìu mến thể hiện ngay ở chất giọng nhẹ nhàng đầy tình cảm của bà. Có lẽ thế nên suốt quãng đường bà đi ngang qua tập thể 16 ngôi nhà trong làng SOS, đứa trẻ nào cũng nhào vào ôm chầm lấy bà gọi mẹ ơi. Bà Hà nguyên là giáo viên dạy toán ở Trường THPT Nguyễn Huệ – Đà Nẵng, một ngôi trường có truyền thống. Được vào làm công tác giảng dạy ở đó là ước mơ và niềm tự hào của bao người tốt nghiệp ĐHSP một thời. Năm 1992, khi Làng trẻ SOS Đà Nẵng được thành lập, bà quyết xin nghỉ dạy. Nhiều người thân ngăn cản, bà đã thuyết phục họ bằng cả tấm lòng yêu trẻ. “Biết sang đây là khó khăn muôn bề, tôi đã dành những đồng lương ít ỏi thuê người giúp việc, chăm con mình để có thời gian dành cho các con ở làng. Ai cũng bảo tôi hâm nặng nhưng thú thật tôi yêu trẻ em lắm, cứ thấy những đứa trẻ mồ côi là đi không nỡ vì mình cũng là một bà mẹ có hai đứa con. Cũng may, ông xã ủng hộ nên tôi đã vượt qua những khó khăn ban đầu để đến với các con trong ngôi nhà này”, bà Hà cho biết. Nhớ lại những ngày đầu tiên vào làng, bà Hà kể: “Hơn 20 năm gắn bó ở làng, nhớ nhất là lần đầu tiên đi miền núi Quảng Nam nhận trẻ. Trời mưa, bùn nhẫy cả bánh xe, lái xe cứ tiến rồi lùi mãi trên con dốc dựng đứng. Ngồi trong xe chỉ biết nhắm nghiền mắt, nghĩ đến những đứa trẻ khát sữa giữa chênh vênh núi rừng đang ngóng mình mới qua được cơn sợ hãi”. Làm người chăm trẻ thì điều tiên quyết là phải có tình thương thực sự với các con dù không phải ruột rà máu mủ. Trong tâm thức của bà, 20 năm đón gần ngàn cháu vào đây, mỗi cháu đều mang theo hành trang khôn lớn một câu chuyện thật buồn. Câu chuyện nào cũng đáng nhớ nhưng có lẽ nhớ nhất là lần đi đón cháu N.X.D (5 tuổi) ở một miền quê nghèo thuộc huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam). “Cháu D. mất mẹ từ rất sớm, không có bố. Hôm tôi tìm về Đại Lộc, D. đang ở nhà người bà con họ hàng. Mới 5 tuổi nhưng khi nghe được đi theo các cô chú về nhà mới, D. lặng lẽ xuống bếp – nơi người hàng xóm tốt bụng lập cái ban thờ cho mẹ D. D. lặng lẽ đốt cây nhang thắp cho mẹ rồi cầm chổi đi quét nhà, cho lợn ăn trước khi lên đường. Nhìn thấy cảnh đó ai cũng rớt nước mắt. Cái giây phút ấy tôi thấm thía hơn tình mẫu tử và nghĩ con đường mình chọn để đi là đúng”, bà Hà trầm tư. Ở vào tuổi lẽ ra đã được nghỉ ngơi, song bà Hà vẫn ở lại cùng làng trẻ. Bà bảo, các con đã yên bề gia thất, con cháu đề huề nên bây giờ bà thảnh thơi hơn để chú tâm lo cho các con trong ngôi làng này được chu đáo. Bà muốn dồn cho các con chút tình thương mà các con thiếu vắng từ lúc còn đỏ hỏn.
Ở làng trẻ này, ngoại trừ những cán bộ quản lý như bà Hà, hầu hết các mẹ khác như Đỗ Thị Ty, Trần Thị Bảy… đều đơn thân. Mỗi người trong số họ cũng như nhiều đứa trẻ, đều mang một câu chuyện dài về cuộc đời đầy bất trắc. Họ tình nguyện gắn bó với mái nhà thiếu tình thương, mong làm con thuyền vượt biển để đưa các con trẻ mồ côi vượt sóng gió cuộc đời, cập bến bờ bình yên ở tương lai.
Bài, ảnh: Phan Vĩnh Yên
|
LTS: Không ruột rà máu mủ, không cùng quê hương bản quán, mỗi người mang một nỗi bất hạnh khác nhau… họ đã tìm đến nhau, truyền hơi ấm tình người cho nhau, tạo nên một gia đình tràn ngập tiếng cười ấm áp của trẻ thơ. Ngôi nhà ấy mang tên Làng trẻ SOS Đà Nẵng.
|


Bình luận (0)