|
|
Trong những ngày tháng 5 lịch sử, Hà Nội một lần nữa lại được đón những người con ưu tú của mình. Những người lính năm xưa với chiến trường Điện Biên Phủ giờ người còn, người mất. Nhưng trong họ là ký ức của cả một thời bom rơi đạn lạc. Những người phụ nữ của Hà thành ngày ấy lên đường nhập ngũ, họ ra đi không hẹn ngày trở về, họ đã sống và chiến đấu như những người lính thực sự. Bà Phạm Thị Tín là một trong những người con ấy. Đã bước sang cái tuổi gần 90 nhưng với bà, Điện Biên vẫn là một ký ức không thể nào quên.
56 ngày đêm lịch sử
Là người đi suốt chiến dịch Điện Biên Phủ nên dẫu 60 năm đã trôi qua, Thượng tá bác sĩ quân y Phạm Thị Tín vẫn bồi hồi nhớ về những ngày tháng ấy. Bà là con gái cả trong một gia đình 4 chị em gái ở phố Lò Đúc, lúc ấy bố đã mất, chỉ còn mẹ già nên dù đi kháng chiến từ năm 1946 nhưng tới năm 1950 bà mới quyết định vào bộ đội. 19 tuổi nhưng không hiểu sao bà không hề biết sợ gian khổ, rừng thiêng nước độc bởi bà luôn nghĩ việc gì mọi người làm được thì mình cũng làm được nên bà đã dứt áo ra đi theo tiếng gọi Tổ quốc. Bà nhập ngũ khi đang là y tá quân y viện tiền phương Liên khu 3-4. Sau đó, bà Tín được cử về đơn vị học chỉnh huấn chính trị ở Phú Thọ. Ngày ấy, tối nào học cũng phải đeo 20 cân gạch và luôn trong tình trạng báo động hành quân. Đó là một cách để cho quen vai đồng chân sắt để hành quân đi chiến dịch. Vào cuối năm 1953, chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu bước vào những ngày cam go, ác liệt, đơn vị của bà Tín bắt đầu hành quân. Nhưng cũng phải mất cả tháng trời mới đến được Mường Phăng. Lúc đầu, bà Tín bị sốt cao, đau lưng, đau mắt và nhận tin em gái thứ ba mất vì sốt rét rừng ở tuyến sau. Mặc dù chỉ huy nói bà có thể ở lại điều trị cho đỡ ốm và về gia đình động viên mẹ, nhưng bà đã nhất định xin đi.
Khi bộ đội đánh vào đồi A1 và Sân bay Mường Thanh, bà phục vụ trong khu trọng thương một đường giao thông hào gồm 30 hàm ếch. Có lúc thương binh đổ về dồn dập, toàn đội bị ốm chỉ còn bà và đồng chí Luật Đội trưởng bám trụ. Những ngày cao điểm đó, có khi 10 ngày dồn dập không được ngủ, không có nước để tắm giặt thay đồ, chỉ gục xuống đuôi chân cáng thương ít phút cho qua cơn thèm ngủ. Thế nên, dù khi ấy ăn uống chỉ có nắm cơm nhỏ với tí mắm khô hay ít muối nhưng bà cũng không hề thèm ăn mà chỉ thèm có một giấc ngủ sâu chừng 2 tiếng đã là cả niềm khao khát. Chưa kể những ngày tháng chiến dịch ấy mưa mù trời, đường hào sụt lở, họ phải lo che chắn cho thương bệnh binh được an toàn.
Bà Tín chia sẻ thêm, trong suốt 56 ngày đêm chiến dịch ấy, không hiểu sức mạnh nào để bà vượt qua mọi gian truân, thử thách với một cô gái ngoài 20 như vậy. Nhiều khi những bệnh binh ngã xuống, ngay cả đàn ông cũng không đủ dũng cảm để khâm liệm thì bà đã xốc vác đảm nhận công việc này.
Tới bây giờ, bà vẫn nhớ như in cảm giác ấy, khi mặt trận bỗng tĩnh lặng không còn tiếng súng, bà leo lên giao thông hào nhìn về phía Sân bay Mường Thanh thấy cờ trắng của lính Pháp kéo hàng lũ lượt, bà bèn gọi đồng chí Luật lên hào, hai chị em cùng vỡ òa, hét vang: “Giải phóng rồi, chiến thắng rồi”… Họ cứ gào như vậy cho tới khi cổ họng khản đặc rồi họ được lệnh đưa bệnh binh về trao trả cho tuyến sau.
Một lần được gặp Bác
Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, ngay trong tháng 5-1954, bà Tín được tham dự Đại hội Tuyên dương chiến sĩ Điện Biên cùng rất nhiều anh hùng khác ở chiến dịch Điện Biên Phủ. Tháng 10-1954, bà được sang Trung Quốc dự Lễ Quốc khánh cùng TW Hội Phụ nữ Việt Nam. Tới Bắc Kinh, đoàn Việt Nam được báo chí quốc tế rất ngưỡng mộ, hễ thấy đoàn Việt Nam là họ hô to: “Việt Nam, Hồ Chí Minh – Điện Biên Phủ”. Khi ấy, bà là nữ binh duy nhất đội chiếc mũ nan bộ đội Điện Biên nên một nhà báo nói với đoàn cho bà đắp tượng chiến sĩ Điện Biên. Nhưng bà Tín trả lời: “Không được, vì ở Việt Nam, tôi chỉ như hạt cát trong một biển cát vô tận các anh hùng liệt sĩ, tôi không xứng đáng được như vậy”…
Về làm tại TW Hội Phụ nữ Việt Nam, bà Tín vẫn còn nhớ như in có một lần trên báo có khách đặc biệt đến thăm TW hội (lúc đó có cả các chị cán bộ phụ nữ miền Nam tập kết ra Bắc). 5-6 giờ chiều, một chiếc xe com-măng đỗ ngay cửa nhà khách, bà Tín đã cùng một chị phụ nữ nữa xuống cầu thang gặp Bác. Bà được Bác bắt tay và dẫn đi xem nhà ăn, nhà bếp của hội, sau đó Người mới ra nhà khách. Tại đây, Bác chia quà, bánh kẹo cho các cháu nhỏ rồi Bác nói chuyện hỏi thăm tất cả chị em trong hội. Bác cũng không quên căn dặn các lãnh đạo hội phải chăm lo săn sóc nơi ăn chỗ ở cho các chị xa quê, ở miền Nam ra Bắc, họ chưa quen khí hậu, phải đoàn kết, yêu thương nhau như ruột thịt. Trong lòng ai cũng bùi ngùi và xúc động vì mới giải phóng thủ đô, còn đang bận trăm công ngàn việc nhưng Người vẫn dành thời gian quan tâm đến các chị cán bộ phụ nữ miền Nam tập kết ra Bắc.
Dù không có cơ hội được gặp Hồ Chủ tịch một lần nữa nhưng với bà Tín, Bác vẫn là một vị Cha già kính yêu. Chiến tranh đã đi qua, những mất mát đau thương đã trở thành những vết thương liền sẹo. Người phụ nữ Hà thành ấy vẫn giữ mãi những ngày oanh liệt ở trong tim. Nếu không có chiến tranh, cuộc sống của những người phụ nữ như bà Tín bình yên biết mấy. Nhưng với bà Tín, bà và các chị em năm xưa được tham gia phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ là một vinh dự, là một ký ức sâu sắc và sẽ mãi mãi không quên.
Nghiêm Huê


Bình luận (0)