“Ai về nhắn với nậu nguồn/ Măng le gởi xuống cá chuồn gởi lên”. Thuở còn bé, người viết bài này thường nghe mẹ của mình hát ru các em bằng bài ca dao trên; về sau, được biết bài ca dao này có thêm dị bản khác thay từ “măng le” bằng từ “mít non”: “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên”.

Trước nay chúng tôi cứ đinh ninh rằng, bài ca dao nêu sản vật “măng le” là thuyết phục hơn, vì mít non thì có ở khắp các miền đất nước, còn măng le là đặc sản rừng, miền xuôi khó có được. Tuy nhiên, mới đây, khi tham khảo ý kiến của hai nhà nghiên cứu lão thành xứ Quảng là Nguyễn Văn Bảy (Trường ĐH Quảng Nam) và Lê Như Thống (Quảng Ngãi) thì chúng tôi sáng tỏ thêm khi được hai vị cho biết, từ Đà Nẵng vô đến Chu Lai toàn vùng cát, khó trồng được mít, nên hầu hết dân mạn đông phải dùng mít từ mạn tây (trung du và miền núi) đưa xuống để chế biến món mít non kho với cá chuồn rất hợp vị, dễ đưa cơm. Bài ca dao này phổ biến ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi (cũ), phản ánh hoạt động giao thương thủy giữa miền xuôi và miền ngược trên các con sông lớn như Trà Khúc, Trà Bồng, Thu Bồn… với những thương cảng nhộn nhịp đương thời Tam Thương, Thu Xà, Hội An… – khi giao thông bộ còn phải nhọc nhằn vượt đèo núi, vô vàn khó khăn cách trở giữa hai miền.
Tạm gác lại chuyện từ ngữ về sản vật trên, trong bài ca dao còn xuất hiện từ cổ “nậu”, từ này đồng thời cũng có mặt trong nhiều câu ca dao Trung bộ khác: Mất chồng như nậu mất trâu/ Chạy lên chạy xuống cái đầu chơm bơm; Tiếc công anh đào ao thả cá/ Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu; Ai làm nậu ái, nậu ân/ Tóc không xe sao rối, ruột không dần sao đau?… Theo từ điển tiếng Việt, “nậu” là phương ngữ có nghĩa “bọn, tụi” (thường hàm ý coi khinh), có liên quan đến danh từ “đầu nậu” chỉ “kẻ cầm đầu một nhóm người làm một việc gì, thường không lương thiện”. Tra cứu thêm từ điển phương ngữ thì ta có nậu là phương ngữ dùng “chỉ chung một hay nhiều người nào đó, như: bạn, bọn, họ”, không ghi nhận hàm ý tiêu cực như trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học.
Tra cứu về nguồn gốc từ nậu, nhiều nhà nghiên cứu thống nhất rằng: ngược dòng lịch sử, từ nậu có từ thời chúa Nguyễn, khoảng thế kỷ XV-XVI, dùng để gọi các đơn vị hành chính cơ sở dưới cấp huyện: thôn, phường, man, nậu. Thôn là đơn vị hoàn chỉnh; phường là nơi tập họp nhóm người cùng làm một nghề (Phường Lụa, Phường Củi, Phường Câu…); man là những xóm hẻo lánh nơi miền núi; còn nậu, theo giải thích trong “Đại Nam Thực lục tiền biên” (ghi lại lịch sử giai đoạn chúa Nguyễn), là tập hợp nhóm người làm ruộng. Tuy nhiên, đến năm 1726, theo quy định cải tổ hành chính của chúa Nguyễn Phúc Chú (sau khi kế vị cha mình là Nguyễn Phúc Chu), các đơn vị man, nậu bị xóa bỏ. Từ đó nậu không còn có nghĩa đơn vị hành chính, nhưng vẫn tồn tại trong lời ăn tiếng nói dân gian địa phương Trung bộ, được chuyển nghĩa sang chỉ một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, có người đứng đầu gọi là đầu nậu, như “nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm, đặc biệt nhóm người khai thác sản vật rừng được gọi chung là “nậu nguồn”.

Còn về từ “nguồn”, có ý kiến cho rằng “nguồn” là chỉ người cung cấp/khai thác, còn “nậu nguồn” (hay “nậu rừng”) là từ chỉ một nhóm người làm nghề khai thác lâm sản (gỗ, mây, tre…) ở rừng. Theo từ điển tiếng Việt, xuất phát của danh từ “nguồn” chỉ nơi bắt đầu của sông, suối (ví dụ: Nguồn nước, Uống nước nhớ nguồn), sau mở rộng ra chỉ miền núi/miền ngược và “nậu nguồn” là từ ghép mà cư dân Trung bộ chỉ nhóm người làm nghề khai thác sản vật sơn lâm ở vùng cao. Sản vật măng le/mít non, cá chuồn trong bài ca dao là vài trong nhiều sản phẩm đặc trưng của hai vùng xuôi ngược thường chuyên chở trao đổi cho nhau trong đời sống hằng ngày.
Bài ca dao “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Măng le/mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên” phản ánh sự trao đổi hàng hóa đặc trưng giữa vùng núi và vùng biển miền Trung thời xưa, là lời nhắn nhủ thể hiện tình cảm gắn bó, khi người miền núi gửi măng le/mít non (từ núi) xuống, người miền biển gửi cá chuồn (từ biển) lên, tiêu biểu cho hoạt động giao lưu sản vật, gắn kết tình cảm giữa cư dân miền xuôi với miền ngược. Sự trao đổi này không chỉ đơn thuần cung ứng, giao thương về vật chất, mà còn là biểu tượng cho sự sẻ chia, gắn kết giữa cộng đồng các dân tộc, tượng trưng của sự giao thoa, hòa hợp gắn kết giữa cộng đồng cư dân rừng – biển miền Trung Việt Nam.
Măng le là loại măng rừng thiên nhiên đặc ruột, trổ từ gốc cây le; có vị ngọt tự nhiên, dai giòn, được mệnh danh là “nữ hoàng” các loại măng vì thân nhỏ, dài, mềm mại, vị ngọt bùi thanh khiết, giòn tan, không đắng chát như măng tre trồng, mang hương thơm đặc trưng của núi rừng, thường mọc nhiều vào mùa mưa ở rừng vùng núi, được đánh giá là loại măng có giá trị kinh tế và ẩm thực cao nhất trong các loại măng Việt Nam, thường có giá bán cao hơn măng thường. Măng le có thể ăn tươi, luộc, xào, hầm hoặc phơi thành măng khô, rất được ưa chuộng trong ẩm thực Việt Nam, đặc biệt là các món bún măng vịt, vịt kho măng. Măng le kho cá chuồn là món ăn dân dã, đậm đà hương vị núi rừng, kết hợp vị ngọt thơm đặc trưng của cá chuồn với vị giòn dai sần sật của măng le, tạo nên món ăn dân dã đặc sắc trong văn hóa ẩm thực ở khu vực Trung bộ.
Mít non kho với cá chuồn cũng là món đặc sản bình dân thơm ngon, đậm đà nổi tiếng của miền Trung. Sự kết hợp giữa vị ngọt béo, dai chắc của thịt cá chuồn cùng vị bùi, giòn, thoảng chát nhẹ của mít non thấm gia vị mặn ngọt dịu tạo nên hương vị hấp dẫn, rất bắt cơm, đặc biệt trong những ngày mưa. Còn cá chuồn (Flying fish) là loài cá nước mặn có nhiều ở các vùng biển ấm nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt phổ biến ở miền Trung Việt Nam (có nhiều ở vùng biển Quảng Nam, Quảng Ngãi). Thân hình thon dài, lưng xanh, bụng bạc, đôi vây ngực lớn xòe rộng như cánh dơi với khả năng “bay lượn” trên mặt nước xa hàng chục mét giúp chúng thoát khỏi kẻ săn mồi. Cá chuồn có thịt trắng, thơm ngọt, xương mềm và trứng béo ngậy, là đặc sản ẩm thực nổi tiếng khi được chế biến thành nhiều món như kho nghệ, chiên sả, nướng giấy bạc, nấu canh chua, đặc biệt là món cá chuồn kho măng le, mít non.
Ngày nay, hệ thống đường sá đã phát triển nhiều nên việc di chuyển, giao thông, vận tải giữa miền xuôi và miền ngược dễ dàng, thuận lợi hơn, người ta có thể mua măng le/mít non và cá chuồn ở bất cứ đâu. Tuy nhiên, lời nhắn nhủ gửi gắm qua bài ca dao vẫn giữ nguyên giá trị, nhắc nhở về cội nguồn và tình nghĩa quê hương, là một phần ký ức không thể thiếu của người miền Trung xa xứ.
Trong kho tàng văn học dân gian nước nhà tồn tại khá nhiều bài/câu ca dao về sản vật địa phương, chúng có giá trị to lớn trong việc tôn vinh nét đặc trưng văn hóa, ẩm thực và cảnh sắc từng vùng miền, đồng thời đóng vai trò như “thương hiệu” quảng bá đặc sản quê hương. Ngoài giá trị lưu giữ, trao truyền vốn tri thức phong phú về các đặc sản vùng miền, chúng còn thể hiện niềm tự hào dân tộc và lòng yêu quê hương đất nước qua các thế hệ: Muốn ăn bánh ít lá gai/ Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi; Em về Bình Định cùng anh/ Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa; Mạch nha, đường phổi, đường phèn/ Kẹo gương Quảng Ngãi ăn quen lại ghiền; Ai đi cách trở sơn khê/ Nhớ tô mì Quảng, tình quê mặn nồng…
Đôi điều tản mạn nhân một bài ca dao về giao lưu sản vật địa phương, qua đó tìm hiểu về các từ ngữ không còn mấy phổ dụng trong đời sống đương đại với tâm tình yêu quý tiếng Việt giàu đẹp, lý thú.
Đỗ Thành Dương

Bình luận (0)